Xu Hướng 6/2023 # Câu Chuyện Được Kể Từ Hảo Hảo, Thương Hiệu Mỳ Ăn Liền Hàng Đầu Việt Nam Được “Nhập Khẩu Ngược” Lại Nhật Bản.|日本で働きたい外国人の仕事探し・就職・転職支援メディア「Jopus」 # Top 10 View | Eduviet.edu.vn

Xu Hướng 6/2023 # Câu Chuyện Được Kể Từ Hảo Hảo, Thương Hiệu Mỳ Ăn Liền Hàng Đầu Việt Nam Được “Nhập Khẩu Ngược” Lại Nhật Bản.|日本で働きたい外国人の仕事探し・就職・転職支援メディア「Jopus」 # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Câu Chuyện Được Kể Từ Hảo Hảo, Thương Hiệu Mỳ Ăn Liền Hàng Đầu Việt Nam Được “Nhập Khẩu Ngược” Lại Nhật Bản.|日本で働きたい外国人の仕事探し・就職・転職支援メディア「Jopus」 được cập nhật mới nhất trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Mỳ ăn liền số 1 Việt Nam được bán tại siêu thị Nhật Bản.

Nhập khẩu ngược là gì ?

Đầu tiên chúng ta cùng tìm hiểu qua về khái niệm “nhập khẩu ngược”. “Nhập khẩu ngược” là hiện tượng một sản phẩm được sản xuất để xuất khẩu ra nước ngoài, nhưng sau đó lại được nhập khẩu về chính nước sản xuất. Ngoài ra, thuật ngữ này cũng chỉ hiện tượng doanh nghiệp của một quốc gia có trụ sở ở nước ngoài chuyên sản xuất sản phẩm cho nước sở tại, và sản phẩm đó được nhập khẩu lại về chính quốc gia của doanh nghiệp đó. Trường hợp nhập khẩu ngược của mỳ Hảo Hảo ứng với nghĩa thứ hai của thuật ngữ này.

Suy nghĩ về lý do Hảo Hảo được nhập khẩu ngược ?

Trong suốt chiều dài lịch sử có rất nhiều mô hình nhập khẩu ngược đã được thực hiện. Trong thời kỳ Minh Trị, khi tiếp thu các tri thức từ phương Tây, để biểu thị các khái niệm mới người Nhật đã dùng chữ Hán để tạo ra các từ ngữ mới nhằm phổ cập kiến thức cho dân tộc như: kinh tế, xã hội, giao thông,… Về sau các từ Hán gốc Nhật này lại được các nhà tri thức Trung Quốc học tập và áp dụng ngược lại vào xã hội Trung Quốc. Như vậy, từ ngữ gốc Hán vốn ban đầu là sản phẩm trí tuệ của nền văn minh Trung Hoa, nhưng sau khi Nhật Bản vay mượn, vận dụng và phát triển thành công thì Trung Quốc lại nhập khẩu ngược lại những từ ngữ gốc Hán mà người Nhật tạo ra. Lý do dẫn đến trường hợp nhập khẩu ngược này là do sản phẩm được xuất khẩu đã có sự biến đổi và phát triển tiến bộ hơn ở nước sở tại mang lại những giá trị mới cho sản phẩm gốc.

Một ví dụ khác cho mô hình nhập khẩu ngược là hàng loạt các doanh nghiệp xe hơi hàng đầu ở Nhật Bản như: Toyota, Nissan, Honda hay Suzuki tiến hành bán các xe vốn được sản xuất ở nước ngoài ở thị trường nội địa. Có nhiều lý do cho trường hợp xuất khẩu ngược này và một trong số đó là điểm lợi về giá cả đối với các xe sản xuất ở các nước có phí nhân công thấp.

Khi suy nghĩ trong trường hợp mỳ Hảo Hảo được xuất khẩu ngược lại Nhật Bản, rõ ràng các yếu tố về giá cả cũng như yếu tố phát triển và biến đổi hơn của sản phẩm ở nước sở tại là không rõ ràng. Vậy đâu mới là lý do khiến mỳ Hảo Hảo được bán ở thị trường Nhật Bản ?

Hảo Hảo – “hương vị quê hương” cho người Việt Nam tại Nhật Bản

Theo tờ báo Asahi thì việc Hảo Hảo xuất hiện trong các siêu thị ở Nhật Bản lần này là để đáp lại nỗi nhớ “hương vị quê hương” của cộng động người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nhật Bản.

Trong những năm gần đây, số lượng người Việt Nam đến Nhật Bản đang trên đà gia tăng nhanh chóng. Theo số liệu do cục quản lý xuất nhập cảnh bộ Tư pháp công bố, tính đến thời điểm cuối tháng 6 năm 2018, có 291,494 người Việt Nam đang cư trú ở Nhật Bản, đứng ở vị trí nhiều thứ 3 sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Tính về tốc độ tăng hàng năm, so với cùng kì năm trước (năm 2017) số lượng người Việt ở Nhật tăng thêm 11.1%, xếp thứ nhất về tốc độ gia tăng. Ngoài ra, so với thời điểm 10 năm trước (năm 2008), con số này đã tăng tới khoảng 7.2 lần.

Khi quy mô của cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản đang mở rộng từng ngày, việc đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống sinh hoạt của người Việt là hết sức cần thiết. Nói về nhu cầu ăn đồ Việt ở Nhật Bản, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh các bạn du học sinh mang theo một va li đựng toàn mỳ tôm trong những ngày đầu sang Nhật. Cá nhân tác giả bài viết cũng có thời gian sống ở Nhật và đã ăn thử nhiều loại mỳ ăn liền, nhưng có vẻ các loại mì của Nhật không phù hợp lắm với khẩu vị người Việt Nam. Do đó, Hảo Hảo với thương hiệu là mỳ ăn liền số 1 Việt Nam cùng với những ưu điểm về tính gọn nhẹ, giá cả phù hợp và cách chế biến dễ dàng sẽ là một giải pháp tạm thời cho nỗi nhớ hương vị quê hương của người Việt tại Nhật Bản.

Sứ mệnh của Hảo Hảo

[Bài viết tham khảo] Đáp ứng mong chờ về hương vị quê hương. Nhập khẩu ngược mỳ ăn liền hàng đầu Việt Nam. (bài viết bằng tiếng Nhật)

Hai thẻ thay đổi nội dung bên dưới.

Câu Chuyện Được Kể Từ Hảo Hảo, Thương Hiệu Mỳ Ăn Liền Hàng Đầu Việt Nam Được “Nhập Khẩu Ngược” Lại Nhật Bản.|日本で働きたい外国人の仕事探し・就職・転職支援メディア「Jopus」

Mỳ ăn liền số 1 Việt Nam được bán tại siêu thị Nhật Bản.

Đầu tiên chúng ta cùng tìm hiểu qua về khái niệm “nhập khẩu ngược”. “Nhập khẩu ngược” là hiện tượng một sản phẩm được sản xuất để xuất khẩu ra nước ngoài, nhưng sau đó lại được nhập khẩu về chính nước sản xuất. Ngoài ra, thuật ngữ này cũng chỉ hiện tượng doanh nghiệp của một quốc gia có trụ sở ở nước ngoài chuyên sản xuất sản phẩm cho nước sở tại, và sản phẩm đó được nhập khẩu lại về chính quốc gia của doanh nghiệp đó. Trường hợp nhập khẩu ngược của mỳ Hảo Hảo ứng với nghĩa thứ hai của thuật ngữ này.

Suy nghĩ về lý do Hảo Hảo được nhập khẩu ngược ?

Trong suốt chiều dài lịch sử có rất nhiều mô hình nhập khẩu ngược đã được thực hiện. Trong thời kỳ Minh Trị, khi tiếp thu các tri thức từ phương Tây, để biểu thị các khái niệm mới người Nhật đã dùng chữ Hán để tạo ra các từ ngữ mới nhằm phổ cập kiến thức cho dân tộc như: kinh tế, xã hội, giao thông,… Về sau các từ Hán gốc Nhật này lại được các nhà tri thức Trung Quốc học tập và áp dụng ngược lại vào xã hội Trung Quốc. Như vậy, từ ngữ gốc Hán vốn ban đầu là sản phẩm trí tuệ của nền văn minh Trung Hoa, nhưng sau khi Nhật Bản vay mượn, vận dụng và phát triển thành công thì Trung Quốc lại nhập khẩu ngược lại những từ ngữ gốc Hán mà người Nhật tạo ra. Lý do dẫn đến trường hợp nhập khẩu ngược này là do sản phẩm được xuất khẩu đã có sự biến đổi và phát triển tiến bộ hơn ở nước sở tại mang lại những giá trị mới cho sản phẩm gốc.

Một ví dụ khác cho mô hình nhập khẩu ngược là hàng loạt các doanh nghiệp xe hơi hàng đầu ở Nhật Bản như: Toyota, Nissan, Honda hay Suzuki tiến hành bán các xe vốn được sản xuất ở nước ngoài ở thị trường nội địa. Có nhiều lý do cho trường hợp xuất khẩu ngược này và một trong số đó là điểm lợi về giá cả đối với các xe sản xuất ở các nước có phí nhân công thấp.

Khi suy nghĩ trong trường hợp mỳ Hảo Hảo được xuất khẩu ngược lại Nhật Bản, rõ ràng các yếu tố về giá cả cũng như yếu tố phát triển và biến đổi hơn của sản phẩm ở nước sở tại là không rõ ràng. Vậy đâu mới là lý do khiến mỳ Hảo Hảo được bán ở thị trường Nhật Bản ?

Hảo Hảo – “hương vị quê hương” cho người Việt Nam tại Nhật Bản

Theo tờ báo Asahi thì việc Hảo Hảo xuất hiện trong các siêu thị ở Nhật Bản lần này là để đáp lại nỗi nhớ “hương vị quê hương” của cộng động người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nhật Bản.

Trong những năm gần đây, số lượng người Việt Nam đến Nhật Bản đang trên đà gia tăng nhanh chóng. Theo số liệu do cục quản lý xuất nhập cảnh bộ Tư pháp công bố, tính đến thời điểm cuối tháng 6 năm 2018, có 291,494 người Việt Nam đang cư trú ở Nhật Bản, đứng ở vị trí nhiều thứ 3 sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Tính về tốc độ tăng hàng năm, so với cùng kì năm trước (năm 2017) số lượng người Việt ở Nhật tăng thêm 11.1%, xếp thứ nhất về tốc độ gia tăng. Ngoài ra, so với thời điểm 10 năm trước (năm 2008), con số này đã tăng tới khoảng 7.2 lần.

Khi quy mô của cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản đang mở rộng từng ngày, việc đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống sinh hoạt của người Việt là hết sức cần thiết. Nói về nhu cầu ăn đồ Việt ở Nhật Bản, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh các bạn du học sinh mang theo một va li đựng toàn mỳ tôm trong những ngày đầu sang Nhật. Cá nhân tác giả bài viết cũng có thời gian sống ở Nhật và đã ăn thử nhiều loại mỳ ăn liền, nhưng có vẻ các loại mì của Nhật không phù hợp lắm với khẩu vị người Việt Nam. Do đó, Hảo Hảo với thương hiệu là mỳ ăn liền số 1 Việt Nam cùng với những ưu điểm về tính gọn nhẹ, giá cả phù hợp và cách chế biến dễ dàng sẽ là một giải pháp tạm thời cho nỗi nhớ hương vị quê hương của người Việt tại Nhật Bản.

Sứ mệnh của Hảo Hảo

[Bài viết tham khảo] Đáp ứng mong chờ về hương vị quê hương. Nhập khẩu ngược mỳ ăn liền hàng đầu Việt Nam. (bài viết bằng tiếng Nhật)

Câu Chuyện Ý Nghĩa Sau Gói Mỳ Ăn Liền

Với giá bán 3.500 đ/gói, những tưởng để làm ra mì ăn liền khá đơn giản, thế nhưng câu chuyện đằng sau một doanh nghiệp sản xuất mì ăn liền lại cho thấy những giá trị khác của sản phẩm này.

Khảo sát của Euromonitor cho thấy năm 2016, thị trường mì ăn liền Việt Nam có quy mô khoảng 24.300 tỷ đồng (tương đương hơn 1 tỷ USD) với mức tăng trưởng hơn 10%. Theo cập nhật của Hiệp hội Mì ăn liền Thế giới (WINA), cũng trong năm ngoái, người Việt đã tiêu thụ 4,9 tỷ gói mì – xếp thứ 4 toàn thế giới, mức tiêu thụ này có phần tăng nhẹ so với năm 2015 (4,8 tỷ gói) và sau nhiều năm liên tục giảm. Theo dự đoán của ông Kajiwara Junichi – Tổng Giám đốc Công ty Acecook Việt Nam, quy mô thị trường sẽ còn tiếp tục gia tăng trong 5 năm nữa và sẽ đạt 5,5 tỷ gói.

Gia nhập thị trường Việt Nam từ năm 1993, bình quân mỗi năm doanh nghiệp Nhật Bản này cung ứng ra thị trường khoảng 2,6 tỷ gói mì và hiện đang là doanh nghiệp số 1 – nắm giữ hơn 50% thị phần của thị trường mì ăn liền. Ứng với con số đó, Acecook Việt Nam đã tạo nên một thương hiệu mang nhiều giá trị với mục tiêu “Cook happiness” – mang ý nghĩa 3 chữ H (Happy): hạnh phúc cho người tiêu dùng (và cho đối tác), hạnh phúc cho người lao động (và gia đình của họ) và hạnh phúc cho xã hội.Xây dựng chất lượng vì người tiêu dùng

Chia sẻ của ông Kajiwara Junichi – Tổng Giám đốc Công ty Acecook Việt Nam: Trong chữ H đầu tiên, chúng tôi mong muốn người tiêu dùng sử dụng thực phẩm của công ty sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc thông qua cảm giác ngon miệng, sự an toàn, an tâm và hài lòng. Chúng tôi luôn nỗ lực để mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm chất lượng tốt nhất trên nền tảng công nghệ hiện đại Nhật Bản kết hợp cùng hương vị Việt Nam và đảm bảo an toàn thực phẩm. Mặt khác, những giá trị cốt lõi của công ty luôn được duy trì và gìn giữ cẩn thận. Chúng tôi không chạy theo lợi nhuận để giảm chất lượng sản phẩm mà luôn đặt tiêu chí an toàn, an tâm lên hàng đầu”.

Luôn mong muốn đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng thông qua việc nâng cao chất lượng và tạo nên nhiều giá trị gia tăng cho sản phẩm, Acecook xác định hướng đầu tư tương lai sẽ tập trung vào các dòng sản phẩm mì ly, sản phẩm có thêm nhiều loại rau, thịt thật…”. Chúng tôi đang hướng đến 2 mục tiêu. Thứ nhất, làm sao tăng tổng tiêu thụ ngành mỳ ăn liền bao gồm (mỳ gói, mỳ cup). Thứ hai, tăng lượng tiêu thụ mỳ cup nhưng không giảm tỷ lệ tiêu thụ mỳ gói. Năm 2016, mỳ cup chiếm 5% tổng mỳ ăn liền của Acecook nhưng năm nay, con số này sẽ tăng gấp đôi. Chúng tôi hướng đến mục tiêu đẩy mức tiêu thụ mỳ cup chiếm 20% toàn ngành mỳ”, TGĐ Acecook Việt Nam chia sẻ. Và những động thái này đã góp phần thay đổi bức tranh toàn cảnh, tạo nên cuộc cách mạng mới cho ngành mì ăn liền vốn chứa nhiều định kiến.

Số lượng mì gói tiêu thụ tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016.

TGĐ Acecook cho biết: Tại Acecook Việt Nam, tôi thấy rằng công ty có thể mang đến cho người lao động được đầy đủ 4 mong đợi: Công việc thú vị, nhiều cơ hội phát triển; Chế độ thu nhập tốt; Mối quan hệ với lãnh đạo luôn có sự gần gũi, cởi mở; Văn hóa doanh nghiệp mang đến cảm giác tươi mới, vui vẻ, thân thiện, khuyến khích sự sáng tạo… Bản thân nhân viên của công ty cũng luôn tâm niệm: mỗi công việc chúng tôi đang làm là “nấu ra hạnh phúc: Cook Happiness” cho người tiêu dùng. Không gì bằng khi bạn an tâm cống hiến, làm việc bằng niềm đam mê và tự hào mỗi ngày bạn tạo ra được những sản phẩm tốt, những sản phẩm mang lại giá trị cho cộng đồng. Đây chính là những điều kiện mà công ty luôn nỗ lực tạo ra để hướng đến chữ “H” thứ hai: Người lao động Hạnh phúc.

Giá trị xã hội sau mỗi gói mì

Trong xã hội hiện tại, khó có thể tìm được loại thực phẩm hội tụ được các yếu tố: Ngon, tiện lợi, bảo quản lâu và chế biến nhanh chóng như mì ăn liền. Mặt khác, dù sản xuất với số lượng lớn (bình quân 1 dây chuyền mì gói của ACV có thể sản xuất được 600 gói mì/phút) nhưng sản phẩm vẫn giữ được tính đồng nhất và ổn định chất lượng nhờ vào việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại.

Vì vậy, không phân biệt quốc gia, độ tuổi, giới tính, mì ăn liền luôn được yêu thích như một “thực phẩm toàn cầu” cũng như được coi là thực phẩm dự trữ của nhiều quốc gia. Mì ăn liền luôn có mặt tại những vùng thiên tai địch họa như động đất, núi lửa, bão lũ… Đây là giá trị cao nhất mà mì ăn liền mang đến cho xã hội từ khi nó có mặt trong đời sống của chúng ta.

Không chỉ sản phẩm do công ty sản xuất mang tính xã hội cao mà bản thân Acecook cũng luôn nỗ lực để nâng cao chất lượng cuộc sống, đem đến nhiều niềm vui, nụ cười cho mọi người bằng mục tiêu chữ H thứ 3 “Xã hội hạnh phúc”. Theo đó, những hoạt động đóng góp cho xã hội, ươm mầm phát triển tương lai của đất nước, cùng chung tay bảo vệ môi trường rất được công ty chú trọng. “Một điều tôi rất tâm đắc với công ty này, đó là ý thức môi trường. Nước thải của tất cả các nhà máy đều phải đạt loại A. Thêm vào đó, yếu tố đảm bảo môi trường cũng là một trong những tiêu chí được đề xuất để công ty đánh giá, lựa chọn đối tác” – TGĐ Acecook chia sẻ.

Acecook Việt Nam

Kinh Nghiệm Đặt Tên Công Ty Từ Các Thương Hiệu Hàng Đầu

Adobe – tên công ty này lấy từ Adobe Creek, là tên con sông gần nhà của người sáng lập John Warnock. Adidas – là tên của người sáng lập công ty Ali Dassler. Ông chủ công ty không muốn dùng đầy đủ tên của mình. Tên ông là Adolf. Apple – là thứ quả yêu thích của người sáng lập công ty Steve Jobs (nó là trái cấm vườn địa đàng). Suốt ba tháng trời đi tìm một tên gọi mà chưa được, một hôm Steve Jobs đưa ra cho đồng sự tối hậu thư: “Tôi sẽ gọi công ty Apple, nếu 5 giờ sáng mai các anh không có đề nghị nào hay hơn”. Apples Macintosh – tên một loại táo có khắp thị trường nước Mỹ từ ngày đấy. Canon – dựa theo Kwanon, nghĩa là Phật Quan âm (tiếng Anh: Buddhistic Goddess of Mercy), nhưng để tránh sự phản đối của các tổ chức tôn giáo, được viết thành Canon. Casio – được đặt theo tên người sáng lập Kashio Tadao. Cisco – viết tắt từ San Francisco. Compaq – com và paq (một chi tiết kết nối). Corel – dựa theo tên người sáng lập công ty, Michael Cowpland. Giải mã từ: COwpland REsearch Laboratory (Phòng thí nghiệm khảo cứu của ông Cowpland). Daewoo – nhà sáng lập công ty Kim Wo Chong gọi tên công ty của mình rất khiêm tốn: “Đại Hoàn vũ”. Tiếng Việt nghe như Đê-U-u… Fuji – núi Phú Sĩ, ngọn núi cao nhất nước Nhật. Google – tên này từ Googol, có nghĩa là số 1 với 100 số không. Từ “A Google” được ghi trong tấm ngân phiếu của người sáng lập đầu tiên gửi các đồng sự của mình. Thế rồi tất cả nhất trí gọi hệ thống tìm kiếm như vậy. HP (Hewlett-Packard) – cả hai nhà sáng lập công ty Bill Hewlett và Dave Packard đã quyết định tung đồng xu để xác định tên ai đứng trước. Và như chúng ta đã biết, Bill may mắn hơn. Hitachi – tiếng Nhật nghĩa là “Mặt trời mọc”. Honda – được đặt theo tên người sáng lập Soichiro Honda. Honeywell – được đặt theo tên người sáng lập Mark Honeywell. Hotmail – Jack Smith và Sabeer Bhatia quyết định chọn từ này vì trong nó có cả các chữ HTML (ngôn ngữ của trang web). Hyundai – tiếng Hàn nghĩa là “Đương thời”. IBM – International Business Machines. Intel – Bob Noyce và Gordon Moore muốn đặt tên công ty là Moore Noyce nhưng lúc đó đã có mạng lưới cửa hàng tồn tại. Bởi vậy, cả hai người quyết định dừng lại ở chữ viết tắt của INTegrated Electronics. Kawasaki – được đặt theo tên người sáng lập Shozo Kawasaki. Kodak – k là chữ cái yêu thích nhất của George Eastman, người sáng lập công ty này. Ông ta đi tìm một từ mà bắt đầu và kết thúc bằng k. Mặt khác, chữ k trong bảng an-pha-bê của tất cả các ngôn ngữ (trừ các ngôn ngữ tượng hình) đều viết giống nhau. Và một điều nữa, khi ta chụp ảnh thì tiếng máy ảnh nghe như: cô-ô-đắc (Kodak). Konica – trước đây có tên là Konishiroku Kogaku. LG – là hai chữ cái đầu của các brand-name: Lucky và Goldstar. Lotus – người sáng lập công ty này Mitch Kapor tập thiền. Từ đó công ty lấy tên theo một kiểu ngồi thiền. Microsoft – MICROcomputer SOFTware. Đầu tiên viết Micro-Soft. Sau đó người ta bỏ đi dấu gạch ngang. Mitsubishi – do người sáng lập, ông Yataro Iwasaki nghĩ ra năm 1870. Từ này theo tiếng Nhật có nghĩa là “Ba viên kim cương”. Motorola – người sáng lập, ông Paul Galvin nghĩ ra tên này khi công ty của ông bắt đầu sản xuất đài (radio) cho xe ô tô. Các công ty cung cấp phụ tùng thời đó đều có tên kết thúc bằng chữ “ola”. Nabisco – đầu tiên là The NAtional BISCuit Company, từ năm 1971 đổi thành Nabisco. Nikon – đầu tiên là Nippon Kogaku, nghĩa là “quang học Nhật Bản”. Nintendo – bao gồm ba từ Nhật Nin-ten-do, có nghĩa là “trời xanh cảm tạ công việc nặng nề”. Nissan – trước kia có tên là Nichon Sangio, nghĩa là “công nghiệp Nhật Bản”. Nokia – đầu tiên là một nhà máy chế biến đồ gỗ, sau đó sản xuất cả những sản phẩm từ cao su ở thành phố Nokia, Phần Lan. Novell – do vợ của George Canova, người đồng sáng lập công ty nghĩ ra. Cô này đã nhầm lẫn khi nghĩ rằng “Novell”, tiếng Pháp nghĩa là “mới”. Oracle – những nhà sáng lập, Larry Ellison và Bob Oats thực hiện một dự án cho CIA, mật mã của dự án này là Oracle. Sau đó dự án bị hủy nhưng cái tên thì vẫn còn lại. Sanyo – tiếng Hán nghĩa là “ba đại dương”. SAP – “Systems, Applications, Productss in Data Processing”, do 4 người trước đây làm cho hãng IBM thành lập. Cả bốn người cùng làm ở nhóm Systems/Applications/Projects. SCO – xuất phát từ: Santa Cruz Operation. Siemens – do Werner von Siemens thành lập năm 1847. Sony – từ tiếng Latin “Sonus”(âm thanh), còn sonny nghĩa là cô bé (tiếng lóng). Subaru – là tên một chòm sao. SUN – là công ty phần mềm do 4 cựu sinh viên Đại học Stanford sáng lập. SUN là viết tắt của Stanford University Network. Suzuki – được đặt theo tên người sáng lập Michio Suzuki. TDK – Tokyo Denki Kogaku. Toshiba – là tên ghép của hai công ty hợp nhất Tokyo Denki (Tokyo Electric Co) và Shibaura Seisaku-sho (Shibaura Engineering Works). Toyota – được đặt theo tên người sáng lập Sakichi Toyoda. Sau đó đổi sang Toyota cho dễ nghe hơn. Toyota bằng tiếng Nhật gồm 8 chữ cái (số 8 là con số may mắn của người Nhật). URSA – là công ty Sao Đại Hùng (URSA – MAJOR là chòm sao Đại Hùng bằng tiếng Anh). Một cách gọi khác: United Recources of Sea Association. Công ty 100% vốn nước ngoài này đặt ở Cam Lâm, Khánh Hòa. Xerox – tiếng Hy Lạp: xer – nghĩa là khô. Nhà phát minh Chester Carlson muốn lấy tên là “khô” bởi vì vấn nạn của máy photocopy thời đó là “ướt”. Yahoo – từ này do nhà văn Jonathan Swift nghĩ ra trong cuốn Những cuộc phiêu du của Gulliver (Gulliver’s Travels). Những nhà sáng lập công ty, Jerry Yang và David Filo chọn tên này vì họ tự coi mình là những Yahoo. Tuy nhiên, hiện nay có xu hướng giải mã tên này là: Yet Another Hierarchical Officious Oracle (nghe có vẻ như: “Thêm một hệ thống tìm kiếm xây dựng theo nguyên tắc thứ bậc”). 3D – Minnesota Mining and Manufacturing Company.

– STC – công ty sách và thiết bị trường học thường được đọc là sờ – ti – cô. Một giả thiết khác: Sáng Tác company của FPT, gắn liền với văn hóa sờ-ti-cô của “sách đỏ FPT” làm xôn xao dư luận một thời. – Nói chung, danh sách các công ty lớn của Việt Nam (và thế giới) sẽ còn tiếp tục được bổ sung. Mong được quí bạn đọc cùng góp sức.

(ST)

Chuyên gia số 1 về đặt tên thương hiệu

5 Câu Chuyện Thú Vị Về Đặt Tên Thương Hiệu

5 câu chuyện thú vị về đặt tên thương hiệu (kể cả bạn cũng chưa biết)

1. Khi bắt đầu ý tưởng mở ra Alibaba, Jack Ma mong muốn đó sẽ là một trong các doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Vì vậy, Jack Ma muốn đặt cho nó 1 cái tên mang tính toàn cầu hóa, 1 cái tên để cả thế giới đều có thể nhớ đến.

Một hôm, khi đang đi công tác ở San Francisco, Jack Ma phát hiện ra cái tên Alibaba vừa nhìn thấy ở trên phố rất thú vị. Sau đó, có một cô phục vụ mang cafe đến cho anh, anh liền hỏi cô có biết Alibaba không, cô gái trả lời tất nhiên biết, nó có nghĩa là Open Sesame (Vừng ơi, mở ra).

Jack Ma tiếp tục tìm hỏi ngẫu nhiên hơn 60 người có quốc tịch khác nhau xem họ có biết về Alibaba không và câu trả lời của họ đều là có, không những vậy họ còn cho rằng đây là 1 cái tên kỳ lạ và thú vị.

Và thế là Alibaba được Jack Ma chọn làm tên công ty.

2. Thành lập tháng 2 năm 2004, Facebook ban đầu có tên là Facemash. Sau đó, Zuckerberg đã đổi thành The Facebook với tên miền chúng tôi dựa theo tên gọi viết tắt của 1 cuốn sách ảnh được phát hành nội bộ trong trường Harvard. Công ty đăng ký nhãn hiệu chúng tôi vào năm 2005. Để làm được điều này, Công ty đã phải bỏ ra số tiền 200 nghìn đôla để mua lại tên miền chúng tôi do trước đó nó đã thuộc về chủ sở hữu khác.

3. Tương tự Facebook, Twitter cũng từng bắt đầu với tên miền chúng tôi Ba tháng sau khi thành lập, 3 nhà đồng sáng lập đã quyết định bỏ ra số tiền 7500USD để mua lại tên miền chúng tôi từ một trang web chuyên về các loài chim.

4. Paypal ban đầu có tên miền khá độc là chúng tôi Tuy nhiên, sau 1 thời gian hoạt động, có quá nhiều ý kiến phản hồi rằng ký tự X mang quá nhiều ý nghĩa, thậm chí khơi gợi các suy nghĩ về nội dung khiêu dâm. Cuối cùng,Confinity – đơn vị sở hữu Paypal,đã phải đổi nó thành Paypal và chọn tên miền là Paypal.com

5. Nhà sáng lập Zara Amancio Ortega ban đầu đặt tên công ty của mình là Zorba theo tên bộ phim “Zorba the Greek” được sản xuất năm 1964. Cửa hàng Zorba đầu tiên được mở tại La Coruña vào năm 1975. Không may nó vô tình gần với quán bar tên Zorba. Để tránh nhầm lẫn, ông đã sắp xếp lại các kí tự để tạo ra một từ tương tự, cuối cùng cái tên Zara ra đời.

Cập nhật thông tin chi tiết về Câu Chuyện Được Kể Từ Hảo Hảo, Thương Hiệu Mỳ Ăn Liền Hàng Đầu Việt Nam Được “Nhập Khẩu Ngược” Lại Nhật Bản.|日本で働きたい外国人の仕事探し・就職・転職支援メディア「Jopus」 trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!