Xu Hướng 2/2023 # Chi Tiết Bài Học 5.Biến Trong Python # Top 4 View | Eduviet.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Chi Tiết Bài Học 5.Biến Trong Python # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Chi Tiết Bài Học 5.Biến Trong Python được cập nhật mới nhất trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

5.Biến trong Python

Một biến Python là một khu vực bộ nhớ được dành riêng để lưu trữ các giá trị. Nói cách khác, biến trong python cung cấp dữ liệu cho quá trình xử lý của máy tính.

Mỗi giá trị trong Python có một kiểu dữ liệu. Các kiểu dữ liệu khác nhau trong Python là kiểu số, kiểu danh sách, kiểu bộ (tuple), kiểu chuỗi (string), kiểu từ điển (dictionary), v.v … Các biến có thể được khai báo bằng bất kỳ tên nào hoặc thậm chí cả bằng chữ cái như a, aa, abc, v.v.

Trong bài học này, chúng ta sẽ tìm hiểu về:

Cùng xét một ví dụ. Chúng ta sẽ khai báo biến “a” và in nó.

a=100 print a

Bạn có thể khai báo lại biến ngay cả khi bạn đã khai báo nó trước đó.

Xét một biến đã được khởi tạo f = 0.

Sau đó, chúng ta gán lại giá trị “guru99” cho biến f

# Declare a variable and initialize it f = 0 print f # re-declaring the variable works f = 'guru99' print f # Declare a variable and initialize it f = 0 print(f) # re-declaring the variable works f = 'guru99' print(f)

Cùng tìm hiểu xem liệu bạn có thể nối các loại dữ liệu khác nhau như chuỗi và số với nhau không. Ví dụ: chúng ta sẽ ghép “Guru” với số “99”.

Nếu trong Java chúng ta có thể thực hiện nối số với chuỗi mà không cần khai báo số đó dưới dạng chuỗi thì trong Python, việc khai báo số dưới dạng chuỗi là cần thiết. Nếu bạn không khai báo, chương trình sẽ báo lỗi kiểu dữ liệu (TypeError).

Đoạn mã nguồn sau sẽ có đầu ra không xác định(báo lỗi: TypeError: cannot concatenate ‘str’ and ‘int’ objects):

a="Guru" b = 99 print a+b

Khi khai báo số nguyên dưới dạng chuỗi, bạn có thể kết hợp “Guru” + str(“99”) trong đầu ra:

a="Guru" b = 99 print(a+str(b))

Trong Python khi bạn muốn sử dụng cùng một biến cho toàn bộ chương trình hoặc mô-đun, bạn cần khai báo nó dưới dạng biến toàn cục. Trường hợp bạn muốn sử dụng biến trong một hàm hoặc phương thức cụ thể, bạn hãy sử dụng biến cục bộ.

Biến “f” là biến toàn cục và được gán giá trị 101, giống như giá trị được in ra.

Biến f được khai báo một lần nữa trong hàm và được coi là biến cục bộ. Nó được gán giá trị “I am learning Python.”, giống như giá trị được in ra. Biến này khác với biến toàn cục “f” được xác định trước đó.

# Declare a variable and initialize it f = 101 print f # Global vs. local variables in functions def someFunction(): # global f f = 'I am learning Python' print f someFunction() print f # Declare a variable and initialize it f = 101 print(f) # Global vs. local variables in functions def someFunction(): # global f f = 'I am learning Python' print(f) someFunction() print(f)

Biến “f” là biến toàn cục và được gán giá trị 101, giống như giá trị được in ra.

Biến f được khai báo sử dụng từ khóa global. Đây KHÔNG PHẢI là một biến cục bộ mà là biến toàn cục được khai báo trước đó. Do đó khi chúng ta in giá trị của nó, kết quả sẽ là 101.

f = 101; print f # Global vs.local variables in functions def someFunction(): global f print f f = "changing global variable" someFunction() print f f = 101; print(f) # Global vs.local variables in functions def someFunction(): global f print(f) f = "changing global variable" someFunction() print(f) f = 11; print(f) del f print(f)

Các biến được coi như một chiếc “phong bì” hoặc “xô” nơi mà thông tin có thể được duy trì và tham chiếu. Giống như bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào khác, Python cũng sử dụng một biến để lưu trữ thông tin.

Tóm tắt:

Java Bài 4: Biến Và Hằng Trong Java

Được chỉnh sửa ngày 23/10/2020.

Chào mừng các bạn đến với bài học Java số 4, bài học về Biến và Hằng trong Java. Bài học này nằm trong chuỗi bài học lập trình ngôn ngữ Java của Yellow Code Books.

Với project HelloWorld mà bạn đã tạo ra ở bài trước. Hôm nay bạn hãy bắt đầu tìm hiểu về ngôn ngữ Java bằng việc tiếp cận hai khái niệm và , với bài học bạn cũng sẽ được thực hành khai báo một số và cơ bản. Và để dễ tiếp cận nhất có thể, với mỗi đoạn code thực hành, mình cũng sẽ đưa ra các trường hợp và của code, để các bạn vừa hiểu nhanh mà cũng vừa hiểu chắc bài học. Mời các bạn bắt đầu bài học.

Việc đầu tiên tiếp cận với một ngôn ngữ lập trình, không riêng gì Java, bạn phải làm quen với khái niệm , các tài liệu tiếng Anh gọi biến là .

là các định nghĩa từ bạn, nó giúp hệ thống tạo ra các vùng nhớ để lưu giữ các giá trị trong ứng dụng. Mỗi biến đều có một kiểu dữ liệu riêng, kiểu dữ liệu này sẽ báo cho hệ thống biết biến đó có “độ lớn” bao nhiêu. Độ lớn của biến sẽ cho biết khả năng lưu trữ giá trị của biến. Bạn sẽ được nắm rõ về độ lớn lưu trữ của mỗi loại biến ở bài học này. Ngoài ra thì mỗi biến còn phải được bạn đặt một cái tên giúp hệ thống có thể quản lý, truy xuất dữ liệu trong vùng nhớ của biến đó.

Để khai báo một biến trong Java, bạn hãy ghi nhớ cú pháp sau:

kiểu_dữ_liệu tên_biến;

hoặc

kiểu_dữ_liệu tên_biến = giá_trị;

Mình giải thích một chút về cú pháp trên.

sẽ quyết định đến độ lớn của biến, các loại và các cách dùng sẽ được nói rõ hơn ở bên dưới bài học.

là… tên của biến 🙂 , cách đặt tên cho biến sẽ được mình nói rõ hơn ở phần bên dưới luôn.

Khi khai báo biến, bạn có thể “gán” cho biến một ban đầu, việc gán giá trị này sẽ làm cho biến có được dữ liệu ban đầu ngay khi được tạo ra. Nếu một biến được tạo ra mà không có giá trị gì được gán, nó sẽ được gán giá trị mặc định, giá trị mặc định này sẽ tùy theo của biến mà chúng ta sẽ nói đến bên dưới.

Cuối cùng, sau mỗi khai báo biến bạn nhớ có dấu để báo cho hệ thống biết là kết thúc việc khai báo, nếu không có hệ thống sẽ báo lỗi ngay.

public class MyFirstClass { public static void main(String[] args) { System.out.println("Hello World!"); double salary; int count = 0; boolean done = false; long earthPopulation; } }

Như ví dụ ở trên, các tên biến được đặt tên là , , hay . Việc đặt tên cho biến đơn giản đúng không nào, đặt như thế nào cũng được, miễn sao bạn đọc lên được (ngôn ngữ của con người), và bạn thấy nó dễ hiểu và đúng với công năng của biến đó là được rồi.

Tuy nhiên thì việc đặt tên cho biến cũng không hoàn toàn tự do, có một số “luật” và “lệ” đặt tên sau đây, nếu bạn mắc phải một trong các quy tắc đặt tên này thì hệ thống sẽ báo lỗi ngay đấy.

. Ví dụ cho việc đặt tên biến đúng như sau.

Không được có khoảng trắng giữa các ký tự của biến. Ví dụ đặt tên biến như sau là sai.

Nếu bạn muốn tên biến trên được tách biệt rõ ràng từng chữ cho rõ nghĩa thì có thể đặt như sau.

Đến đây thì cho mình nói ngoài lề xíu: trong trường hợp biến có nhiều từ như ví dụ trên, việc bạn chọn muốn đặt theo kiểu nào trong 3 cách đúng như trên đều được, chúng đều là các cách đặt tên biến phổ biến ngày nay. Thậm chí một trong số cách đó còn có những cái tên thú vị.

Chẳng hạn biến thisIsCount được gọi là cách đặt tên theo (đặt kiểu con lạc đà), có lẽ là bởi hình dáng của nó. Với cách này thì chữ đầu tiên this được viết thường, nên trông thấp nhỏ như phần đầu lạc đà. Các chữ cái ở mỗi từ tiếp theo sẽ viết hoa IsCount, chữ viết hoa làm chúng nhô lên cao như lưng con lạc đà vậy.

Còn biến this_is_count được gọi là cách đặt tên theo (đặt kiểu con rắn), cũng bởi đặc điểm hình dáng của biến. Với cách đặt tên này thì các chữ cái đều viết thường hết (cũng có người viết hoa mỗi chữ cái đầu như với This_Is_Count, nhưng cách đặt này làm chúng ta tốn thời gian gõ tên biến hơn) và được nối với nhau bởi dấu gạch dưới. Việc đặt tên này làm cho biến bị kéo dài ra giống như con rắn vậy. Tuy vậy thì cách đặt này giúp chúng ta rất dễ đọc từng từ vì chúng cách biệt khá rõ ràng.

Với lập trình Java thì các bạn nên chọn ra cho mình một phong cách đặt tên biến rõ ràng, đừng nhập nhằng lúc thì lúc thì . Với mình thì mình khuyên bạn nên đặt tên biến theo kiểu (bạn sẽ thấy từ đây về sau mình sẽ dùng cách đặt tênnày) vì đó là “lệ” đặt tên biến chung của các ngôn ngữ Pascal, Java, C# hay Visual Basic rồi.

Ngoài lề

. Ví dụ đặt tên biến như sau là sai.

Không được đặt tên biến trùng với keyword. Keyword là các từ khóa mà ngôn ngữ Java dành riêng cho một số mục đích của hệ thống. Các keyword của Java được liệt kê trong bảng sau.

Ví dụ đặt tên biến như sau là sai.

Tuy nhiên bạn có thể đặt tên biến có chứa keyword bên trong đó mà không bị bắt lỗi, như ví dụ sau.

Như đã nói ở trên, mỗi biến đều phải có một kèm theo nó. Kiểu dữ liệu sẽ báo cho hệ thống biết biến đó có “độ lớn” bao nhiêu, độ lớn này sẽ cho biết khả năng lưu trữ giá trị của biến.

Việc chọn một kiểu dữ liệu cho biến là phụ thuộc ở bạn. Thông thường bạn nên dựa trên công năng của biến đó, chẳng hạn như biến thuộc kiểu hay kiểu . Hoặc bạn có thể dựa trên khả năng lưu trữ giá trị của biến đó, như biến là số hay số .

Chúng ta hãy bắt đầu làm quen với 8 kiểu dữ liệu “nguyên thủy” của biến. Gọi là kiểu dữ liệu kiểu dữ liệu hướng đối tượng sẽ được mình nói ở các bài sau khi bạn đã nắm được kiến thức căn bản của Java. Các kiểu dữ liệu nguyên thủy của bài học hôm nay được liệt kê theo sơ đồ sau. nguyên thủy vì chúng là các kiểu dữ liệu cơ bản và được cung cấp sẵn của Java. Về mặt lưu trữ thì kiểu dữ liệu nguyên thủy lưu trữ dữ liệu trong chính bản thân nó, việc sử dụng kiểu này cũng rất đơn giản, và không dính líu gì đến hướng đối tượng cả. Ngược lại với kiểu dữ liệu nguyên thủy là

Chúng ta cùng nhau đi vào từng loại kiểu dữ liệu để biết rõ hơn.

Kiểu này dùng để lưu trữ và tính toán các số nguyên, bao gồm các số nguyên có giá trị âm, các số nguyên có giá trị dương và số . Sở dĩ có nhiều kiểu số nguyên như trên, là vì tùy vào độ lớn của biến mà bạn sẽ khai báo kiểu dữ liệu tương ứng, chúng ta cùng xem qua bảng giá trị của các kiểu dữ liệu số nguyên như sau.

Theo như bảng trên thì khi bạn thấy việc chọn lựa độ lớn cho kiểu là rất quan trọng, như với kiểu là , hệ thống sẽ chỉ cấp phát cho chúng ta vùng nhớ lưu trữ đúng dữ liệu, với vùng nhớ này bạn chỉ được phép sử dụng độ lớn của biến từ -128 đến 127 mà thôi.

Ví dụ bạn khai báo biến như sau là hợp lệ.

Còn khai báo như sau sẽ vượt ra ngoài khả năng lưu trữ của biến và vì vậy bạn sẽ bị báo lỗi ngay.

Do đó khi sử dụng kiểu dữ liệu cho biến bạn phải cân nhắc đến độ lớn lưu trữ của chúng. Bạn không nên lúc nào cũng sử dụng kiểu dữ liệu cho tất cả các trường hợp vì như vậy sẽ làm tiêu hao bộ nhớ của hệ thống khi chương trình được khởi chạy. Bạn nên biết giới hạn của biến để đưa ra kiểu dữ liệu phù hợp. Ví dụ nếu dùng biến để lưu trữ các tháng trong năm, thì kiểu là đủ. Hoặc dùng biến để lưu tiền lương của nhân viên theo VND, thì dùng kiểu , hoặc thậm chí là kiểu luôn vì biết đâu có người thu nhập đến hơn 2 tỷ VND mỗi tháng (eo ôi!).

Kiểu này dùng để lưu trữ và tính toán các số thực, chính là các số có dấu chấm động. Cũng giống như kiểu số nguyên, kiểu số thực cũng được chia ra thành nhiều loại với nhiều độ lớn khác nhau tùy theo từng mục đích, như bảng sau.

Với sự thoải mái trong cấp phát bộ nhớ của kiểu số thực thì bạn không quá lo lắng đến việc phân biệt khi nào nên dùng kiểu hay . Ví dụ sau đây cho thấy trường hợp dùng kiểu số thực.

Sở dĩ với kiểu ở trên phải để chữ vào cuối khai báo float rating = 3.5f; là vì thỉnh thoảng chúng ta phải nhấn mạnh cho hệ thống biết rằng chúng ta đang xài kiểu chứ không phải kiểu , nếu bạn không để thêm vào cuối giá trị thì hệ thống sẽ báo lỗi. Tương tự bạn cũng có thể khai báo double radious = 34.162d; nhưng vì hệ thống đã hiểu đây là số rồi nên bạn không có chữ trong trường hợp này cũng không sao.

Kiểu dùng để khai báo và chứa đựng một ký tự. Bạn có thể gán một ký tự cho kiểu này trong một cặp dấu nháy đơn như hay như ví dụ sau.

public class MyFirstClass { public static void main(String[] args) { char testUnicode1 = 'u2122'; char testUnicode2 = 'u03C0'; System.out.println("See this character " + testUnicode1 + " and this character " + testUnicode2); } }

Kết quả in ra như sau.

Khác với C/C++, kiểu trong ngôn ngữ Java chỉ được biểu diễn bởi hai giá trị là và mà thôi. Do vậy mà kiểu dữ liệu này chỉ được dùng trong việc kiểm tra các điều kiện logic, chứ không dùng trong tính toán, và bạn cũng không thể gán một kiểu số nguyên về kiểu như trong C/C++ được.

Khai báo một kiểu boolean đúng như sau.

Việc khai báo một biến boolean như sau là sai.

Nếu không khai báo giá trị cho biến, thì biến kiểu sẽ có giá trị mặc định là .

trong tài liệu tiếng Anh gọi là const, viết tắt của từ . Hằng cũng tương tự như biến, nhưng đặc biệt ở chỗ nếu một biến được khai báo là hằng thì nó sẽ không được thay đổi giá trị trong suốt chương trình.

Để khai báo một hằng số, bạn cũng khai báo giống như biến nhưng thêm vào trước khai báo. Bạn sẽ được biết nhiều hơn đến hằng số qua bài học riêng về từ khóa final. Giờ thì bạn có thể xem ví dụ sau để hiểu sơ về hằng.

final float PI = 3.14f; final char FIRST_CHARACTER = 'a'; final int VIP_TYPE = 1;

Chúng ta vừa xem qua cách khai báo các biến và hằng. Nếu bạn vẫn còn mông lung về ngôn ngữ Java ở bài học này cũng không sao, mọi thứ chỉ mới bắt đầu, và rất cần nỗ lực từ phía bạn. Bạn sẽ được học sâu hơn các kiến thức về ngôn ngữ Java này ở các bài sau.

Bạn sẽ được học cách sử dụng các phép toán trong Java, và kết hợp với việc khai báo biến và hằng của bài học hôm nay để viết một số ví dụ tính toán thú vị.

Chi Tiết “Trùm Cuối” Range Rover Svautobiography 2022 Giá 17.5 Tỷ

Ngoại thất bệ vệ, uy nghiêm

Siêu SUV Range Rover SVAutobiography 2021 có kích thước cơ thể to lớn, đồ sộ với thông số dài x rộng x cao là 5199 x 2220 x 1840 mm.

Đi đôi với bộ cản trước dày cộm là phần khe hút gió mở rộng theo phương ngang đóng khung hình chữ nhật. Các thanh kim loại chạy dài hơn nẹp sát vào bên trong tạo cảm giác vững vàng, chắc chắn.

Từ cột A nhìn xuống, bạn dễ dàng nhận thấy điểm đặc trưng của hãng Range Rover là các đường gân sọc và nẹp kim loại in hằn vào thành cửa.

Đặc biệt hơn, toàn bộ cửa sổ phía sau dùng kính tối màu liền mạch tạo sự riêng tư. Trụ D phía sau làm dày hơn hẳn và cũng là nơi chống đỡ vòm mái góc cạnh có xu hướng xuôi về sau.

Khác biệt lớn nhất ở phía sau là cụm ống xả lộ ra ngoài nhưng ẩn bên trong mảng ốp hình tứ giác. Logo của đơn vị Special Vehicle Operations đặt bên phải đuôi xe là một điểm nhấn không thể bỏ qua trên phiên bản này.

Nội thất xa xỉ như hoàng cung thu nhỏ

Là phiên bản đầu bảng nên SVAutobiography 2021 có trục cơ sở được nới ra thêm 220 mm đạt 3120 mm. Xe được phát triển dựa trên bản trục cơ sở kéo dài nhằm mang đến cho khách hàng những trải nghiệm đậm chất hoàng gia.

Khoang lái của xe được thiết kế cầu kỳ, phong cách tạo hình sang trọng pha lẫn cổ điển như một hoàng cung di động. Tổng thể táp lô vẫn là các lớp da được căng phẳng lì cùng nhựa bóng piano màu đen đầy mê hoặc.

Hai ghế phía trước tạo cảm giác ngồi vô cùng thoải mái khi có mặt đệm nhô cao nhưng không cố định hay ràng buộc cơ thể người lái. Bề mặt ghế da đục lỗ cho cảm giác thông thoáng hơn. Ghế lái và ghế phụ chỉnh điện đa hướng, nhớ vị trí giúp chủ nhân dễ tìm được tư thế ngồi thoải mái.

Ở vị trí tài xế, người dùng chạm tay vào chiếc vô lăng quyền lực mà ai cũng khao khát làm chủ. Với thiết kế 4 chấu cùng khối trực diện ốp phẳng, xe mang lại phong cách rất đặc trưng mà chỉ trên những chiếc xe đắt tiền như bản SVAutobiography mới có được.

Nhà sản xuất cũng không quên tích hợp lẫy chuyển số và các nút bấm cảm ứng trên tay lái để mọi thao tác trơn tru hơn. Ngoài ra, ở sau vô lăng còn được trang bị một màn hình kỹ thuật số 12 inch có độ phân giải rất cao.

Toàn bộ các tính năng như rèm che nắng, cửa sổ trời toàn cảnh đều có thể điều chỉnh chỉ bằng một nút bấm từ phía ông chủ ngồi sau. Chỉ với 1 nút chạm bấm, bạn hoàn toàn có thể ra lệnh chiếc xe theo ý muốn.

Tiện nghi – xa xỉ, đắt tiền

Với một chiếc xe Range Rover 5 chỗ có mức giá ngất ngưỡng 17.5 tỷ đồng như SVAutobiography thì khả năng làm mát không còn là vấn đề đáng lo ngại. Xe sở hữu hệ thống điều hòa 4 vùng độc lập làm mát rất nhanh và sâu.

Màn hình phía trên điều khiển hệ thống thông tin giải trí, phía dưới là hệ thống điều khiển phản ứng địa hình Terrain Response.

Ngoài ra xe còn có các tính năng như:

2 màn hình cảm ứng kích thước 10 inch

Tủ lạnh mini ở trung tâm

Bàn làm việc chỉnh điện tích hợp cổng sạc USB, khay để cốc

Màn hình giải trí gắn tại tựa lưng hàng ghế trước

Hệ thống âm thanh trên xe vẫn là của thương hiệu quen thuộc Meridian cao cấp đặt xung quanh xe.

Cổng sạc 230V

Với hệ dẫn động 4 bánh, chiếc xe của bạn trở nên thông minh hơn khi có chế độ điện tử sẵn sàng thích nghi với điều kiện lái. Các bánh xe nhận được tỷ lệ truyền lực ít-nhiều khác nhau khi chạy sao cho phù hợp nhất nhằm mang đến những trải nghiệm ấn tượng.

Xe sử dụng hệ thống treo khí nén hay còn gọi là phuộc khí vô cùng êm ái khiến người ngồi ở khoang sau không cảm thấy dư chấn từ việc rung lắc nhẹ. Toàn bộ cơ thể lướt đi rất êm và đằm đến mức những ai không quen với việc ngồi xe sang rất dễ say xe.

Độ an toàn cao khi vượt địa hình

Với tên gọi “SVAutobiography”, chữ “SV” mang ý nghĩa là Special Vehicle (phương tiện đặc biệt). Lẽ dĩ nhiên, mẫu xe này sinh ra chỉ để phục vụ những người có tầm ảnh hưởng lớn đúng như cái tên ẩn chứa sự quyền lực của nó.

5 Bài Học Sâu Sắc Về Tình Yêu Mà Bộ Phim “50 Sắc Thái” Dạy Bạn

Được chuyển thể từ bộ tiểu thuyết cực kỳ ăn khách cùng tên, “50 sắc thái” có lẽ là bộ phim được trông chờ nhất đầu năm nay. Đã ra mắt từ hơn một tháng trước nhưng có vẻ như độ nóng của cái tên 50 sắc thái vẫn chưa hề thuyên giảm.

Sức hút của bộ phim gây nhiều tranh cãi này không chỉ đến từ dàn diễn viên xinh đẹp, tài năng; nhạc phim lãng mạn, bay bổng; những cảnh nóng bỏng được trông đợi… mà với những người để tâm, bộ phim này còn để lại những bài học cực kỳ sâu sắc về tình yêu:

1. Muốn có được người mình yêu, trước tiên bạn phải là người can đảm

Mặc dù đã phải lòng nhau từ cái nhìn đầu tiên, thế nhưng câu chuyện tình yêu của Christian Grey và Anastasia Steele không chỉ giản đơn như thế. Chính Christian đã nói anh không phải người thích hợp ở cạnh Ana. Vậy mà trong một lần say, Ana đã chủ động gọi điện cho Christian. Và kể từ đó, mối quan hệ của họ bắt đầu có tiến triển.

Từ một cô gái nhút nhát, không dám nhìn thẳng vào mắt người đối diện, chưa từng có mối tình đầu, Ana đã chủ động và tự tạo ra cơ hội bắt đầu với Christian. Còn Christian, chàng trai thành công trẻ tuổi với đầy rẫy những nguyên tắc quanh mình cũng đã can đảm mở lòng để đón nhận Ana.

2. Quá khứ là một phần không thể thiếu trong mỗi người. Đôi khi, yêu một ai đó cũng đồng nghĩa phải chấp nhận với sự ám ảnh ấy, dù cho nó làm đau chính mình.

Ana nghe và đồng cảm, thấu hiểu, nhưng tuyệt nhiên không hề ép buộc Christian phải cư xử khác đi. Ana chấp nhận quá khứ của Christian, dù điều đó chính là nguyên nhân khiến cô ôm trong lòng thắc mắc khá lâu, cũng như “làm đau” cô mỗi khi gần gũi với Christian.

3. Tiền vĩnh viễn không thể mua được người con gái mà mình yêu, hãy học cách chăm sóc cô ấy!

Christian, 27 tuổi, giàu có, là CEO tập đoàn Grey của riêng mình. Anh có khối tài sản lớn, có phi cơ riêng, có một căn nhà sang trọng, luôn khoác lên mình những bộ quần áo đắt tiền… Từ khi yêu Ana, anh đã mua cho cô rất nhiều thứ, đưa cô đi chơi bằng chính máy bay riêng, thế nhưng, anh không dùng tiền để “mua” cô.

Những gì Christian đem đến cho Ana cũng chỉ để chăm sóc cô, muốn cô vui vẻ hơn nữa. Christian mua laptop cho cô để cô nói chuyện với anh và thuận tiện hơn trong công việc. Anh đưa cô đi chơi cũng chỉ mong cô được thoải mái, tận hưởng những giây phút ngọt ngào bên anh.

4. Trong tình yêu, mọi nguyên tắc đều có thể bị phá vỡ.

Việc yêu một cô gái không có gì xuất sắc như Ana của Christian đã là minh chứng đầu tiên của điều ấy. Christian vốn là một người khá nguyên tắc, đặc biệt là trong chuyện tình yêu, khó ai có thể bước chân được vào thế giới nội tâm của Christian. Trước đây anh đã ở cạnh 15 người, nhưng cho đến Ana – người thứ 16, Christian mới có những lần đầu tiên thực sự ý nghĩa như ngủ trên giường cùng Ana, ăn sáng cùng cô, dẫn cô ra mắt bố mẹ…

Đó cũng là những lần đầu tiên Christian thoát khỏi mặc cảm quá khứ để yêu một người con gái theo cách bình thường nhất.

5. Những đớn đau mà tình yêu mang lại cũng nhiều như những sự ngọt ngào mà trái tim cảm nhận được.

Bộ phim kết thúc với hình ảnh Christian và Ana nhìn nhau khi cánh cửa thang máy dần khép lại. Nhưng khác với ánh nhìn ngọt ngào khi bị “sét đánh” ở đầu phim, giờ đây trong mắt Christian lại là nỗi đau khó nói.

Mặc dù chạy theo níu giữ Ana nhưng cô đã bảo anh đứng lại, và Christian đã dừng lại ngay trước chiếc cửa thang máy – ranh giới của hai người. Sau những ngày tháng hạnh phúc cùng nhau, họ chia tay. Dù cảnh phim chỉ đến thế là hết, nhưng ai cũng hiểu rằng qua ánh mắt luyến tiếc và bất lực nhìn Ana, Christian đã thực sự đau khổ. Và tin rằng khi bỏ đi, Ana cũng không thể nhẹ lòng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Chi Tiết Bài Học 5.Biến Trong Python trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!