Xu Hướng 2/2023 # Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội # Top 4 View | Eduviet.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội được cập nhật mới nhất trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

QĐND – Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, diễn ra từ ngày 3 đến 7-2-1930 tại Cửu Long (Trung Quốc) mang tầm vóc lịch sử của Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã đề ra Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng; vạch ra đường lối giải phóng dân tộc và tiến lên CNXH của cách mạng Việt Nam. Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng là đồng chí Trần Phú. Từ đó đến nay, Đảng ta đã trải qua 11 kỳ đại hội và sẽ tổ chức Đại hội XII của Đảng từ ngày 20 đến 28-1-2015, tại Hà Nội. Mỗi kỳ đại hội Đảng là một mốc lịch sử quan trọng, khẳng định những thắng lợi, thành tựu, đúc rút kinh nghiệm cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu các kỳ đại hội của Đảng ta.

* Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ I

Diễn ra từ ngày 27 đến 31-3-1935, tại Ma Cao, Trung Quốc. Dự đại hội có 13 đại biểu chính thức thay mặt cho 500 đảng viên trong nước và các Đảng bộ ở nước ngoài.

Đại hội bầu Ban Chấp hành (BCH) Trung ương gồm 9 ủy viên chính thức và 4 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. BCH Trung ương nhất trí cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc là đại biểu của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản.

Đại hội đánh dấu sự khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; đẩy mạnh cuộc vận động thu phục quần chúng, thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

* Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II

Diễn ra từ ngày 11 đến 19-2-1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Dự đại hội có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết, đại diện cho hơn 766.000 đảng viên Cộng sản trên toàn Đông Dương.

Đại hội thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội”, thông qua Chính cương của Đảng Lao Động Việt Nam (Đảng ra hoạt động công khai và lấy tên này).

Đại hội đã phát triển đường lối kháng chiến và đề ra những chính sách cụ thể để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn và chuẩn bị những tiền đề đi lên CNXH sau khi kháng chiến thành công. Do sự phát triển và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và kháng chiến, đại hội quyết định xây dựng ở mỗi nước Đông Dương một Đảng Cộng sản riêng. Ở Việt Nam, Đảng lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta; đồng thời có nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận cách mạng nước ta.

Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết (Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên chính thức và 1 dự khuyết). Đại hội bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư.

* Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III

Diễn ra từ ngày 5 đến 10-9-1960 tại Hà Nội; có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết đại diện hơn 500.000 đảng viên trong cả nước về dự đại hội.

Đại hội đã tiến hành tổng kết 30 năm lãnh đạo của Đảng, nêu lên những bài học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội phân tích kỹ đặc điểm, tình hình cách mạng Việt Nam, quyết định đường lối cách mạng XHCN, xây dựng CNXH ở miền Bắc và đường lối cách mạng miền Nam nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đề ra nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết; BCH Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch Đảng. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng.

* Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV

Diễn ra từ ngày 14 đến 20-12-1976 tại Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.008 đại biểu chính thức đại diện cho 1.550.000 đảng viên của cả hai miền đất nước, cùng với sự có mặt của đại diện nhiều Đảng Cộng sản và các tổ chức quốc tế khác.

Đại hội IV của Đảng diễn ra trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi hoàn toàn, hai miền Nam – Bắc thống nhất sau hơn 20 năm bị chia cắt.

Đại hội thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1976-1980), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng. Đại hội tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đưa đất nước đi lên CNXH.

Đại hội đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam; bổ sung Điều lệ Đảng. Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 101 Ủy viên chính thức, Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư.

QĐND

Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 6/1-7 /2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc. Người chủ trì Hội nghị là Nguyễn Ái Quốc, với chức vụ là phái viên của Quốc tế Cộng sản.

Hội nghị là sự hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản trong Việt Nam và Đông Dương, Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Hội nghị với sự tham gia của 2 đại diện An Nam Cộng sản Đảng, 2 đại diện Đông Dương Cộng sản Đảng. Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không kịp cử đại diện tham dự. Tổng số Đảng viên là 211 người.

Bối cảnh

Trong nước

Tình hình đầu thế kỷ XX hết sức biến động, đặc biệt sau Thế chiến thứ 1, Pháp là quốc gia thắng trận nhưng kinh tế gần như bị sụp đổ để khôi phục nền kinh tế Pháp ra sức ra tăng bóc lột các quốc gia thuộc địa để làm giàu cho chính quốc.

Các phong trào cứu quốc trong nước đã chuyển từ giai cấp phong kiến sang giai cấp tư sản, hàng loạt các tổ chức chính trị bí mật ra đời. Nhiều tờ báo có chủ trương cứu quốc cũng được thành lập tại khắp cả nước.

Đầu năm 1930 cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại dẫn tới sự sụp đổ của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đồng thời đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam.

Tổ chức Cộng sản

Trước năm 1929 tổ chức Cộng sản đầu tiên là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập tại Trung Quốc, tuyên truyền quảng bá con đường đấu tranh trong nước đồng thời truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê. Nhưng tới đầu năm 1929 các đảng viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phân rã một cách sâu sắc về đường lối chính trị.

Ngày 1/5/1929, Đại hội toàn quốc Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên họp ở Hương Cảng, đoàn đại biểu Bắc Kỳ do đại biểu Ngô Gia Tự ra đề nghị giải tán Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Đề nghị đó không được Đại hội chấp nhận nên đoàn đại biểu Bắc Kỳ bỏ hội nghị ra về. Đến ngày 17/6/1929 Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập.

Tháng 10/1929, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Nam Kỳ họp Đại hội tuyên bố giải tán Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và thành lập An Nam Cộng sản Đảng.Sau khi thành lập 2 đảng phê phán và chia rẽ nhau.

Tháng 9/1929, bộ phận đảng viên tiên tiến Đảng Tân Việt thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng Liên Đoàn hoạt động chủ yếu tại Trung kỳ.

Quốc tế

Sau cách mạng tháng 10 Nga và việc thành lập Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết đã chỉ hướng cho nhân dân các quốc gia bị áp bức và các nước thuộc địa về con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Quốc tế Cộng sản được thành lập với nhiệm vụ giải phóng dân tộc các quốc gia bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới với giai cấp vô sản là nòng cốt.

Ngày 27/10/1929 Quốc tế Cộng sản gửi cho người Cộng sản tại Đông Dương về việc thành lập một Đảng Cộng sản tại Đông Dương:

“Việc thiếu 1 Đảng Cộng sản duy nhất trong lúc phong trào công nhân và nông dân ngày càng phát triển, đã trở thành một điều nguy hiểm vô cùng cho tương lai trước mắt cuộc cách mạng ở Đông Dương”.

Quốc tế Cộng sản nhấn mạnh:

“Nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả những người Cộng sản Đông Dương là thành lập một Đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”.

Hội nghị

Nhận thấy tình hình trong nước đồng thời nhận được tài liệu của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc ủy viên bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam với tư cách phái viên Quốc tế Cộng sản đã bí mật từ Thái Lan về Trung Quốc (tháng 11/1929).

Phái viên đã triệu tập đại biểu củađể bàn việc hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc

An Nam Cộng sản Đảng:

Đông Dương Cộng sản Đảng:

Đông Dương Cộng sản Liên đoàn:

Đại biểu không kịp tham dự

Nhóm đại biểu hải ngoại:

Phái viên Quốc tế Cộng sản Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị.

Nghị trình

Hội nghị tổ chức từ ngày 6/1/1930 bí mật diễn ra tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc. Tại Hội nghị Nguyễn Ái Quốc phê phán các tổ chức Cộng sản chia rẽ thiếu tinh thần đoàn kết, chỉ rõ những sai lầm và hệ quả.

Hội nghị đã thống nhất thành lập Đảng chung hợp nhất An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Đảng và lấy tên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị cũng thống nhất thông qua Cương lĩnh chính trị gồm Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt,điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.

Hội nghị cũng thành lập Ban chấp hành Trung ương Đảng lâm thời, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Tương tế, Hội Phản đế,…và thông qua Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc.

Hội nghị chính thức bầu Trịnh Đình Cửu làm Phụ trách Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau hội nghị Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đề nghị xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 24/2/1930 Ban Chấp hành Trung ương lâm thời nhóm họp và đã chính thức chấp thuận đề nghị.

Kết quả

Hội nghị đã thống nhất chung các tổ chức Cộng sản thành một đảng thống nhất và duy nhất dẫn dắt đường lối cách mạng tới con đường giải phóng dân tộc.

Bài 18 : Đảng Cộng Sản Việt Nam Ra Đời

– Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản đã thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng dân tộc, dân chủ phát triển.

– Hoạt động của ba tổ chức cộng sản mang tính chất riêng rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành ảnh hưởng của nhau đã gây trở ngại lớn cho phong trào cách mạng.

– Yêu cầu bức thiết lúc này là phải có một đảng cộng sản thống nhất trong cả nước.

– Quốc tế cộng sản chỉ thị cho những người cộng sản Đông Dương thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất. Thực hiện chỉ thị của Quốc tế cộng sản và theo yêu cầu của những người cộng sản Đông Dương, cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc triệu tập hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất.

2. Nội dung của Hội nghị

– Hội nghị họp từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930 tại Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc).

– Hội nghị đã nhất trí: thống nhất các tổ chức cộng sản để thành lập một đảng cộng sản duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự thảo. Được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Cương lĩnh của Đảng nêu là:

– Việt Nam trước tiên làm cách mạng tư sản dân quyền (sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân), sau làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn cách mạng đó kế tiếp nhau.

– Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến, tư sản phản cách mạng.

– Mục tiêu cách mạng: làm rõ cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng nên chính phủ công-nông-binh, tổ chức quân đội công-nông, tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc, lấy lại ruộng đất của đế quốc và bọn phản cách mạng chia cho dân cày nghèo.

– Lực lượng cách mạng là công nhân và nông dân. Công nông là gốc cách mạng. Cách mạng đồng thời là đoàn kết tiểu tư sản, tư sản dân tộc và trung tiểu địa chủ chưa lộ rõ phản cách mạng.

– Vai trò lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp vô sản Việt Nam. Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

– Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, đứng về phía mặt trận cách mạng gồm các dân tộc thuộc địa và giai cấp công nhân trên thế giới.

+ Đây là cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng. Cương lĩnh Chính trị đầu tiên này thể hiện sự đúng đắn, sáng tạo nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và tính nhân văn, với tư tưởng cốt lõi là độc lập dân tộc và tự do dân chủ.

– Nhân dịp này Nguyễn Ái Quốc đã ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản. Sau hội nghị thống nhất, Đông Dương cộng sản liên đoàn xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 23/2/1930, yêu cầu đó được chấp nhận. Đến đây, Đảng Cộng sản Việt Nam mới là đảng thống nhất của ba tổ chức cộng sản.

*Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản năm 1929 dẫn đến sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam vì: – Đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam . – Khi chủ nghĩa Mác – Lê nin kết hợp với phong trào công nhân, phong trào yêu nước tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của Đảng cộng sản.

II. Luận cương chính trị (10/1930)

– Giữa lúc phong trào cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng diễn ra quyết liệt, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất họp tại Hương Cảng (Trung Quốc) tháng 10/1930.

+ Hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Bầu Ban chấp hành Trung ương chính thức và bầu Trần Phú làm Tổng bí thư. Hội nghị còn thông qua Luận Cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú soạn thảo.

Trần Phú (1930)

Luận cương chính trị ​​

2. Nội dung chính

– Tính chất cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng dự bị cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi thì bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa mà tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa.

– Nhiệm vụ cách mạng là đánh đổ ách thống trị của chế độ phong kiến và chủ nghĩa đế quốc Pháp. Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau.

– Mục tiêu cách mạng là làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, dựng nên chính phủ công nông, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để đem chia cho dân cày.

– Lực lượng cách mạng là công nhân và nông dân, trong đó giai cấp vô sản lãnh đạo.

– Vai trò lãnh đạo là Đảng Cộng sản Đông Dương. Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Đông Dương.

– Phương pháp đấu tranh: tập hợp, lãnh đạo quần chúng đấu tranh, võ trang bạo động, đánh đổ chính quyền của giai cấp thống trị.

– Vị trí của cách mạng Việt Nam: Quan hệ mật thiết với cách mạng thế giới.

– Đảng vận động, lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi quyền lợi trước mắt rồi đưa quần chúng lên trận tuyến cách mạng: khi tình thế cách mạng xuất hiện thì phát động quần chúng vũ trang bạo động, đánh đổ chính quyền giai cấp thống trị, giành chính quyền cho công nông.

– Điều cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng: đó là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

– Luận cương chính trị đã xác định được nhiều vấn đề chiến lược cách mạng, nhưng cũng bộc lộ những nhược điểm và hạn chế nhất định.

+ Chưa vạch rõ được mâu thuẫn chủ yếu của một xã hội thuộc địa nên không nêu cao vấn đề dân tộc lên hàng đầu (trong lúc nêu cao vấn đề đấu tranh giai cấp, vấn đề cách mạng ruộng đất).

+ Đánh giá không đúng khả năng cách mang của giai cấp tiểu tư sản và khả năng liên minh có điều kiện với giai cấp tư sản dân tộc.

+ Không thấy được khả năng phân hóa và lôi kéo một bộ phận giai cấp địa chủ trong cách mạng giải phóng dân tộc.

+ Những nhược điểm này mang tính “tả khuynh”, giáo điều. Phải trải qua quá trình đấu tranh thực tiễn cách mạng, những nhược điểm trên mới dần dần được khắc phục.

II. Ý nghĩa của việc thành lập Đảng

– Đảng ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở Việt Nam trong suốt thời đại mới.

– Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam.

– Việc thành lập Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của giai cấp công nhân và của cách mạng Việt Nam: chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về vai trò lãnh đạo và đường lối giải phóng dân tộc.

– Cách mạng Việt Nam đã trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới.

– Đảng ra đời là sự chuẩn bị thiết yếu đầu tiên có tính chất quyết định đến những bước phát triển nhảy vọt về sau của cách mạng Việt Nam.

* Hướng dẫn trả lời câu hỏi

1. Nguyên nhân diễn ra Hội nghị thành lập Đảng ngày 3-2-1930?

– Sự ra đời của 3 tổ chức đã thúc đẩy phong trào cách mạng nước ta phát triển mạnh mẽ, tạo thành một làn sóng đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ khắp nơi.

– Nhưng ba tổ chức cộng sản nói trên lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng với nhau. Tình hình đó nếu kéo dài sẽ có nguy cơ dẫn đến sự chia rẽ lớn, gây bất lợi cho cách mạng Việt Nam.

– Yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải có một đảng cộng sản thống thất trong cả nước mới có thể đương đầu được với đế quốc, phong kiến và đưa cách mạng tiến lên.

2. Hoàn cảnh và nội dung của Hội nghị thành lập Đảng 3/2/1930?

– Nguyễn Ái Quốc với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản đã chủ trì hội nghị hợp nhất tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930.

– Nội dung của hội nghị:

+ Thống nhất các tổ chức cộng sản để thành lập một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam.

+ Thông qua Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.

+ Nguyễn Ái Quốc ra Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng.

3. Hội nghị thành lập Đảng ngày 3/2/1930 có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ?

Hội nghị thành lập Đảng ngày 3/2/1930 có ý nghĩa như một Đại hội thành lập Đảng. Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt được hội nghị thông qua là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

4. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?

– Từ một người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc, rồi trở thành người chiến sĩ cộng sản, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản (1920).

– Tích cực truyền bá chủ nghĩa Mac – Lê nin vào Việt Nam, trực tiếp chuẩn bị về mặt tư tưởng chính trị cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925), đào tạo cán bộ cách mạng, kết hợp chủ nghĩa Mác – Lê nin với phong trào công nhân, phong trào yêu nước, xây dựng tổ chức, cơ sơ cách mạng, trực tiếp chuẩn bị về tổ chức cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Là người trực tiếp chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành công và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Nguyễn Ái Quốc là người đề ra đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam (cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng).

5. Trình bày nội dung của Hội nghị Ban chấp hành trung ương lâm thời lần thứ nhất của Đảng?

– Tháng 10 -1930, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng đã họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc).

– Hội nghị đã quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức và cử Trần Phú làm Tổng bí thư.

– Thông qua Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú khởi thảo.

6. Cho biết đôi nét về tiểu sử của đồng chí Trần Phú?

– Trần Phú sinh ngày 1/5/1904 tại Quảng Ngãi (nguyên quán huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh). Cha mẹ mất sớm, cuộc sốn khó khăn, anh em Trần Phú phải ra Quảng Trị nhờ họ hàng giúp đỡ. Sau này, Trần Phú được vào học ở Trường Quốc học Huế.

– Năm 1925, Trần Phú tham gia Hội Phục Việt rồi gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng. Tháng 8/1926, ông sang Trung Quốc liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và trở thành hội viên của tổ chức này. Năm 1927, ông được cử sang học tại trường Đại học Phương Đông Mát-xcơ-va. Tháng 10/1930, ông tham gia Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và được cử làm Tổng bí thư.

– Ngày 19/4/1931, ông bị địch bắt, tra tấn và hi sinh lúc mới 27 tuổi.

7. Nội dung chủ yếu của Luận cương Chính trị tháng 10/1930 của Đảng Cộng sản Đông Dương?

– Cách mạng Việt Nam phát triển qua hai giai đoạn : lúc đầu là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó bỏ qua thời kì tư bản chủ nghĩa mà tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.

– Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ các thế lực đế quốc và phong kiến, giành độc lập cho đất nước và cuộc sống ấm no cho nhân dân.

– Lực lượng của cách mạng : giai cấp vô sản và nông dân là hai động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền.

– Điều cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam là cần phải có một đảng cộng sản, có một đường lối chính trị đúng đắn, kỉ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng và trưởng thành trong đấu tranh.

– Đảng phải liên lạc mật thiết với vô sản và các dân tộc thuộc địa, nhất là vô sản Pháp.

8. So với Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Luận cương Chính trị tháng 10-1930 có những điểm hạn chế nào?

Điểm hạn chế của Luận cương:

– Chưa nhận thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ chống đế quốc giành độc lập.

– Nặng nề về đấu tranh giai cấp, chưa thấy rõ được khả năng cách mạng của các tầng lớp khác ngoài công nông.

9. Hãy trình bày ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam?

– Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới (từ sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917).

– Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

– Đảng ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của giai cấp công nhân và cách mạng Việt Nam, khẳng định giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt thời kì khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam đã thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Cách mạng Việt Nam thật sự trở thành một bộ phận khăng khít với cách mạng Thế giới.

– Đảng ra đời là sự chuẩn bị đầu tiên có tính tất yếu, quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt về sau của dân tộc Việt Nam.

10. Tại sao nói sự ra đời của ba tổ chức cộng sản vào năm 1929 là xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam?

Ba tổ chức cộng sản vào năm 1929 là xu thế tất yếu đáp ứng yêu cầu của phong trào cách mạng Việt Nam và khi chủ nghĩa Mác – Lê nin két hợp được với phong trào công nhân, phong trào yêu nước tất yếu dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản.

11. Lập niên biểu các sự kiện trong quá trình hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ năm 1920-1930?

Tháng 7.1920

Đọc sơ thảo Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê nin

Tháng 12.1920

Bỏa phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ Ba và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp

1921

Lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa

1922

Sáng lập ra báo “Người cùng khổ” và truyền bá tư tưởng cách mạng vào các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam

1923

Dự Hội nghị Quốc tế Nông dân và được bầu vào Ban Chấp hành

1924

Dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V – Đọc tham luận

1925

Lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên

Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện ở Quảng Châu đào tạo hơn 200 cán bộ

1927

Phát hành cuốn “Đường Kách mệnh”

Ý Nghĩa Lịch Sử Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam

Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản diễn ra trong vòng nửa cuối năm 1929 là bước tiến nhảy vọt của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, phù hợp với xu thế và nhu cầu bức thiết của lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, ở một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động.

Trong bối cảnh đó, nhận thấy sự cần thiết phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam, ngày 23-12-1929, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm đến Trung Quốc. Người triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng) để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Báo cáo gửi Quốc tế cộng sản ngày 18-2-1930 của Nguyễn Ái Quốc, hội nghị diễn ra vào ngày 6-1, các đại biểu trở về An Nam ngày 8-2-1930.

Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng. Trong đó, Chánh cương vắn tắt của Đảng và sách lược vắn tắt của Đảng có giá trị như cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm Ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam – thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc.

Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đó là kết quả của sự vận động, phát triển và thống nhất phong trào cách mạng trong cả nước; sự chuẩn bị công phu về mọi mặt của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết nhất trí của những chiến sỹ tiên phong vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh, phong trào yêu nước và phong trào công nhân ở Việt Nam; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. 

Thực tiễn 91 năm qua đã khẳng định: Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân; đồng thời, là đội tiên phong của nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam.

Chào mừng kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vô cùng tự hào vì đất nước ta có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hoà bình và tiến bộ của nhân loại.

Tự hào về Đảng quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi đảng viên, công chức, viên chức và người lao động toàn Chi bộ giảng viên Khối Kinh tế – xã hội và Đảng bộ Trường Đại học Tôn Đức Thắng càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, nguyện đi theo Đảng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, tiếp tục lãnh đạo cán bộ, giảng viên, công nhân viên đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Lê Hùng

Giảng viên Trung tâm Giáo dục QP&AN

Cập nhật thông tin chi tiết về Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!