Xu Hướng 2/2023 # Địa Danh Đồng Nai: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Quá Trình Phát Triển # Top 9 View | Eduviet.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Địa Danh Đồng Nai: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Quá Trình Phát Triển # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Địa Danh Đồng Nai: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Quá Trình Phát Triển được cập nhật mới nhất trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Theo sử liệu Việt Nam, năm 1658, nhân việc vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân “xâm phạm biên cảnh”, quân chúa Nguyễn đã vào đánh chiếm Moi Xoai, nay thuộc tỉnh Đồng Nai. Như vậy, địa danh Đồng Nai có lẽ đã ra đời gần thời điểm vừa nêu.

Theo tài liệu chúng tôi hiện có, địa danh Đồng Nai xuất hiện bằng chữ Quốc Ngữ lần đầu tiên trong một báo cáo của giáo hội Thiên Chúa về tình hình giáo dân ở Nam Bộ năm 1747: Doũ – nai. Sau đó, địa danh Đồng Nai xuất hiện, vừa bằng chữ Nôm vừa bằng Quốc Ngữ vào năm 1772, trong Dictionarium annamitico – latinum (từ điển An Nam- La Tinh) của Pigneau de Béhaine.

Hai chữ Hán và Nôm mà tác giả dùng để phiên âm địa danh Đồng Nai là 仝 狔 . Hai chữ này về sau, Lê Quý Đôn, Trịnh Hoài ĐỨc, Taberd, Huỳnh Tịnh Của, Génibrel cũng viết như thế. Như vậy, tất cả các từ điển và sách sử địa đều nhất rí về cách viết bằng chữ Nôm địa danh Đông Nai.

2. Về nghĩa hai chữ trên, ta thấy các tác giả đều hiểu là “cánh đồng có những con nai”. Génibrel ghi rõ ý này” “la plaine aux cerfs”. Khi cần dịch địa danh này sang chữ Hán, các nhà nho đã fudng hai từ Lộc Dã. Lộc là con Nai; Dã là cánh đồng. Vậy, các nhà Hán học cũng hiểu chữ ghép Đồng Nai vốn có nghĩa trên.

Một số khác thay vì dùng Lộc Dã, lại dùng Lộc ĐỘng. ở đây phải chăng là dịch nghĩa? Theo nghĩa đen, Lộc Động là “hang nai”, rõ ràng không khớp nghĩa với Đồng Nai, và thực tế cho biết nai không ở trong hang. Theo chúng tôi hiểu, đây là một ừ ghép vừa dịch nghĩa vừa phiên âm. Lộc để dịch nai, Động để phiên âm Đồng. Hiện tượng tương tự đã được sử dụng. Người ta đã dùng từ ngữ Nghi Giang để chỉ Rạch Thị Nghè. (Thị) Nghè được phiên thành Nghi và rạch được dịch thành Giang. Mặt khác, để phiên âm địa danh Đồng Hới (Quảng Bình), người xưa đã dùng hai từ Hán Việt Động Hải. Động Hán Việt đã được dùng để phiên âm Đồng thuần Việt.

4. Ngoài hai trường hợp dịch nghĩa và dịch nghĩa-phiên âm nêu trên, còn có một trường hợp phiêm âm thuần túy: Nông Nại. Đồng được phiên âm thành Nông là có thể chấp nhận vì hai phụ âm đầu “đ” và “n” cùng là phụ âm đầu lưỡi, đã có nhiều tiền lệ chuyển đổi như: (tấm) đệm – nệm, (đến) đỗi – nỗi, độc (tiếng Mường)- nọc (tiếng Việt)… Còn từ Nai, trong tiếng Hán – Việt không có, nên phải dùng Nại là tiếng gần âm để phiên.

Nhân các tên gọi Lộc Dã, Lộc Động, Nông Nại, chúng tôi xin được phép lưu ý các nhà sử học: đây không phải là những địa danh thực thụ mà chủ là tên dịch, tên phiêm âm hoặc tên vừa dịch vừa phiên âm của địa danh Đồng Nai mà thôi. Chính vì lẽ đó, những tên vừa nêu không ba giờ được các từ điển Quốc ngữ ghi lại như Đồng Nai. Tương tự, thực sự không có các địa danh Sài Côn, Nghi Giang, Đại Phong Giang, Tiểu Phong Giang, Sa Giang, Thuyền Úc… mà chỉ có Sài Gòn, rạch Thị Nghè, rạch Ong Lớn, rạch Ông Bé, rạch Cát, Vũng Tàu…

5. Mặt khác, cấu trúc “từ chỉ địa hình+ tên thú” rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở Nam Bộ: rạch Bến Trâu, Gò Công, Hố Bò, cầu rạch Đỉa, ấp bàu Trăn,… Còn yếu tố nai hay hươu xuất hiện trong địa danh cũng khá nhiều: Hố Nai, Đồng Hươu (Biên Hòa), rạch Nai, ấp Bàu Nai, sông Mũi Nai, Hóc Hươu (TpHCM).

6. Cho đến nay, địa danh Đồng Nai đã chỉ ít nhất 8 đối tượng, tứ là có 8 địa danh Đồng Nai theo trình tự phát triển như sau:

Địa danh Đồng Nai đầu tiên là tên một cánh đồng có nhiều nai, một vùng trong lãnh thổ thỉnh Đồng Nai hiện nay.

Địa danh Đồng Nai kế tieeso chỉ cái chợ hạ lưu sông Đồng Nai vào thế kỷ XIX, cách thị xã Biên Hòa độ 5 dặm. Câu ca dao sau đây có nhắc đến tên này:

Địa danh ĐỒng Nai thứ ba chỉ cả vùng miền Đông Nam Bộ. câu ca dao sau đây nhắc đến địa danh này:

Địa danh tiếp theo là tên sông. Vì chảy qua miền Đông Nam Bộ nên sông mang tên Đồng Nai. Câu tục ngữ “gạo Cần Đước, nước Đồng nai” nói về giá trị của gạo ở cần Đước và tính trong lành của nước ở dòng sông này.

Địa danh Đồng nai thứ năm chỉ cả Nam Bộ Đồng nai trong bài “Chạt Tây” của Nguyễn Đình Chiểu và trong hai câu ca dao khá phổ biến ở miền trung sau đây chỉ vùng đất này:

Địa danh Đồng nai trong câu “Nhất Đồng Nai, nhì Hai Huyện” cũng chỉ cả Nam Bộ.

Mặt khác, chiếc cầu trên xa lộ Hà Nội bắc qua sông Đồng Nai được xây trong thời gian 1957-1961, cũng mang tên Đồng Nai.

Đầu năm 1976, ba tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy đã được sáp nhập thành tỉnh Đồng Nai.

Ngoài ra, còn có địa danh Đồng nai Thượng. Đây là tên một tỉnh ở thượng nguồn sông Đồng Nai, lấy Đà Lạt làm tỉnh lỵ, lặp năm 1899 và giải thể năm 1901.

7. Đối với tên nước Thù Nại, chúng tôi thấy không có quan hệ gì với địa danh Đồng Nai vì mấy lý do. Trước hết, các nhà sử học chưa nhất trí về tên gọi nước này ( Thù Nại, Thù Cấm hay Chu nại?). Kế đến, nước này nằm ở địa phận vào (Nam Bộ hay nơi khác?). Mặt khác, Nai có thể có quan hệ về ngữ âm với Nại, chứ Cấm thì không. Còn Thù và Chu hoàn toàn không có quan hệ gì về âm và nghĩa với Đồng. Sau cùng, tên nước này vốn là một từ cổ được hán Việt hóa, còn Đồng Nai là một từ thuần Việt và xuất hiện trong thời ký cận đại.

.■

Nguồn: Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và Tiếng Việt văn học. PGS.TS. Lê Trung Hoa, nxb Khoa Học Xã Hội, 2005

Nguồn Gốc Địa Danh Bến Tre

Nguyễn Văn Âu nhận xét về địa danh ở Bến Tre như sau: “Tuy là vùng đất mới, song địa danh ở đây không phải là đơn giản” . Điều này được thấy rõ hơn qua việc có nhiều ý kiến rất khác nhau khi giải thích về địa danh Bến Tre.

Trong “Địa chí Bến Tre” có ghi địa danh Bến Tre có cấu tạo: địa thế tự nhiên + tên loại thảo mộc. Với 2 cách hiểu:

Nơi có nhiều tre mọc như Sóc Tre, Bến Giá .

Nơi buôn bán tre nứa từ phía thượng nguồn xuôi về như Bến Tranh, Bến Súc. Và khẳng định Bến Tre là từ thuần Việt. Và ở thời Ngô Đình Diệm Bến Tre đổi thành Trúc Giang (sông tre). Thực ra từ thời Minh Mạng Bến Tre đã được Hán hóa là Trúc Giang.

Tương tự, Nguyễn Phương Thảo cũng cho rằng danh từ riêng Bến Tre cần phải đặt trong hệ thống các địa danh theo mẫu : bến + X ở Bến Tre như bến Rớ, bến Miễu, bến Chùa, bến Giá, bến Cát…xóm Bến Trại, rạch Bến Xe và cho rằng chúng được đặt theo một kiểu tư duy chung”.

Mở đầu quyển khảo cứu “Monographie de la province de Bến Tre” của Imp.L.Ménard năm 1903 có ghi :

“Bến Tre était autrefois occupé par les Cambdgiens qui l’appelèrent Sốc Tre (pays des bambous), à cause de nombreux giồng couverts de bambous dont le pays était parsemé. Plus tard, les Annamites fondèrent un marché qu’ils appelèrent BếnTre (débarcadère en bambous). Le rạch qui passe devant le marché et va se perdre dans le Hàm Luông, porte le même nom”.

Tạm dịch: “Bến Tre ngày xưa người Khơme chiếm trước và gọi là Sốc Tre …vì trong xứ trên các giồng có tre mọc đầy. Sau đó người An Nam lập chợ buôn bán và gọi chợ Bến Tre, tức bờ sông hay bến bằng tre. Con rạch chảy ngang chợ này trổ nước xuống cửa Hàm Luông cũng mang tên rạch Bến Tre y như vậy”.

Trái ngược với các ý kiến trên, tác giả Vương Hồng Sển cho rằng Bến Tre là do hiểu sai từ tiếng Khơme Srok kompong Trey hay Srok kompong Treay mà trey hay treay có nghĩa là cá (Ví dụ như là trey kinh thor: cá sặt lớn hay cá dù tho). Theo tác giả như vậy thì Sork kompong trey hay Sork kompong treay sẽ có nghĩa là Bến Cá và khi Hán hóa thì sẽ là Ngư Tân chứ không phải là Trúc Giang .

Cùng ý kiến với Vương Hồng Sển, tác giả Lã Xuân Thọ trong “Đồng Nai văn tập”, số 13, cũng đã cho rằng không thể có sự nhầm lẫn như vậy được. Như vậy theo quan niệm này thì Sork Kompong Trey sẽ là Xứ Cá, Bến Cá.

Còn nhận định của Nguyễn Duy Oanh về địa danh Bến Tre thì nội dung hầu như bao gồm tất cả các ý kiến được nêu ở trên. Có hai thuyết mà tác giả đưa ra:

Thứ nhất: Bến Tre trước kia là sốc của người Miên có tên là Sốc Tre (Srok Trey hay Sork Treay). Trey có nghĩa là cá như: Trey Prek -cá sông; Trey Sramot- cá biển; Trey Damrey- cá voi…Có lẽ xứ này trước kia có nhiều cá nên hiện giờ còn nhiều con rạch mang tên rạch Cá Lóc, rạch Cá Trê, rạch Ba Tri Cá…Điều đó còn minh chứng qua nhiều câu ca dao sau đây:

Sông Bến Tre nhiều hang cá ngátĐường Ba Vát gió mát tận xươngAnh có thương em thì nối sợi chỉ hườngChớ bán rao cho lắm, hãy chừa đường xuống lên.

HoặcBa phen quạ nói với diềuNgã ba Bến Rớ có nhiều cá tôm

HoặcChợ Ba Tri thiếu gì cá biểnAnh thương nàng anh nguyện về đây

Thứ hai: có thuyết cho rằng Sốc Tre là vùng có nhiều tre. Vùng này có nhiều giồng mà trên đó tre mọc um tùm. Tác giả cho rằng theo thuyết trên chính vì Sốc Tre có nhiều tre nên ghe thuyền ghé bến này chở tre, mà ra danh từ Bến Tre. Tác giả còn nói thêm rằng Bến Tre là do những chữ “bến thuế của sốc tre “thu ngắn lại.

Bùi Đức Tịnh thì cũng không chấp nhận ý kiến là ngày xưa ở bến sông có tre mọc nhiều hoặc có sự buôn bán tre phát triển ở vùng đất Bến Tre vì ngày nay không để lại dấu vết gì để chứng tỏ. Theo tác giả thì về phương diện ngôn ngữ “tre” là một hình thức Việt hóa của từ Khơme “trây” có nghĩa là cá, và tác giả còn nói thêm là thực tế chợ Bến Tre từ trước đến nay bán khá nhiều cá, vừa cá biển vừa cá đồng và gần chợ có cây cầu mang tên cầu Cá Lóc.

Theo cách giải thích của những người dân sống nơi đây thì Bến Tre là bến có nhiều tre mọc. Như vậy có hai luồng ý kiến khác nhau trong việc nhận định về nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Bến Tre, một bên cho rằng địa danh này được cấu thành theo địa thế tự nhiên + tên loài cây có nhiều ở đó. Kiểu này thì địa danh Bến Tre là từ thuần Việt.

Ý kiến thứ hai thì lại ngược lại, địa danh Bến Tre có nguồn gốc Khơme: Sork Kompong Trey/Treay (nghĩa là: xứ bến cá). Mỗi cách lí giải của các tác giả đều đưa ra những bằng chứng để thuyết phục, nhưng chung qui cũng còn rất mơ hồ, biết rằng trước khi lưu dân từ miền Trung vào đất Bến Tre lập nghiệp thì đã có người Khơme sinh sống trước ở đó: “Trước khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam, người Việt đã lập ở đó những tổ chức. Những nhóm người di cư đã xây dựng làng xóm, hay tới ở chung với người Cao Miên” [Địa chí Bến Tre, tr.284], nhưng chỉ dựa vào những địa danh còn lưu lại ở đây là xứ có nhiều cá, tôm để thuyết phục thì chưa đủ hợp lí vì hầu như ở các tỉnh miền tây Nam Bộ, xứ nào cũng nhiều tôm, cá, mặc dù tiếng Khơme Sork Kompong Trey có âm gần với tiếng Sốc Tre. Còn những ý kiến mà cho rằng ở vùng đất cù lao này xưa kia có nhiều tre mọc nên gọi là Bến Tre thì đã được Châu Đạt Quan (một xứ thần của nhà Nguyên bên Trung Quốc) trong chuyến đi sứ sang kinh đô Angkor của nước Chân Lạp vào năm 1296 bằng đường thủy qua ngõ sông Cửu Long, đã miêu tả vùng đất Nam Bộ trong đó có Bến Tre như sau: “Những cửa rộng của dòng sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chổ trú sum sê. Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu. Vào nửa trong cửa sông, người ta mới thấy những cánh đồng hoang không có một gốc cây nào. Xa nửa tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy. Hàng trăm, hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bầy. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm” [Địa chí Bến Tre, tr.24 -25].

Tuy nhiên việc xác định đúng, chính xác, thuyết phục địa danh Bến Tre thì không dễ dàng gì, vì cho đến nay các nhà nghiên cứu cũng còn đang bỏ ngỏ chưa đi đến kết luận cuối cùng. Cho nên tác giả Nguyễn Văn Âu trong quá trình tìm hiểu địa danh này, ở cuối bài đã nói: “Cho tới nay địa danh Bến Tre vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để vấn đề được sáng tỏ hơn vì đây là một vùng đất nông nghiệp trù phú với một truyền thống đấu tranh kiên cường trong lịch sử dân tộc. Còn Bùi Đức Tịnh thì: “Về địa danh Bến Tre, không nên chỉ hiểu theo lối đơn giản mà bỏ mất khả năng tìm một từ nguyên có thể thích hợp với điều kiện lịch sử và thực tế hơn” .

Nguồn Gốc Địa Danh Đà Lạt Là Gì

 

 

Có ý kiến cho là Đà Lạt là cách đọc trại ( hay viết sai chính tả ? ) của Đa Lạc, nhiều niềm vui, viện dẫn địa danh của nhiều thôn xóm, khu phố của thành phố này như Đa Lợi, Đa Lộc, Đa Thành, Đa Lợi, Đa Thiện… Xem ra đây chỉ là một lý giải dễ dãi, hời hợt, thiếu chứng cứ, ít thuyết phục.

Cách giải thích được chính thức công nhận cho rằng: Địa danh Đà Lạt được bắt nguồn từ chữ Đạ Lạch, tên gọi của con suối Cam Ly. Khởi nguồn từ huyện Lạc Dương, dòng suối Cam Ly chảy qua khu vực Đà Lạt theo hướng bắc – nam, trong đó đoạn từ khoảng hồ Than Thở tới thác Cam Ly ngày nay được gọi là Đạ Lạch. Theo ngôn ngữ của người Thượng, Đạ hay Dak có nghĩa là nước, người Lạch (hay còn viết Làc, Lat, M’Lates) là tên gọi của một nhóm cư dân nhỏ người Kơ ho, sống lâu đời trên cao nguyên Lang Bian. “Lạch”, theo tiếng địa phương, có nghĩa là “rừng thưa” dùng để chỉ vùng rừng thông, đồi trọc từ dãy Lang Bian trải dài xuống Tây Nam, bao gồm cả thành phố Đà Lạt ngày nay

Tên gọi Đà Lạt (Đạ Lạch) có nghĩa nước hay suối của người Lạch (Lát) .

Ngay ông Cunhac, viên Công sứ đầu tiên của thành phố Đà Lạt cũng hiểu Đà Lạt như vậy. “À la place du lac coulait le petit ruisseau de la tribu des Lat et qu’on appelait “Dalat” (Da au Dak: eau en moi)”. ( Ở chỗ hồ nước có dòng suối nhỏ của bộ tộc Lat chảy qua mà người ta gọi là Dalat – Da hay Dak nghĩa là nước theo tiếng Thượng ). Và Stanley Karnow, một sử gia nổi tiếng của Mỹ, trong bài Return to Dalat đăng trong “Smithsonian Magazine”, một tạp chí Nhân Văn Khảo Cổ uy tín, cũng có ý kiến tương tự:

Nằm ở độ cao khoảng 5000 feet ( 1500m ) so với mặt nước biển, cao nguyên có số dân thưa thớt gồm các sắc tộc miền thượng; năm 1893, Alexandre Yersin, một nhà khoa học gốc người Thuỵ Sĩ, với sở thích mạo hiểm, đã đi bộ lên vùng này. ( Yersin , người điều hành việc nghiên cứu tại Viện Pasteur Paris, sau này sang Trung Quốc, và phát hiện trực khuẩn gây bệnh dịch hạch lúc đó đang hoành hành ở châu Á và đe doạ phương Tây. ) Vẻ đẹp hoang sơ và khí hậu trong lành đã gây cho Yersin ấn tượng mạnh nên ông ra sức thuyết phục giới cầm quyền thực dân Pháp phát triển nơi này thành một trung tâm nghỉ dưỡng. Theo một vài nguồn tin, một quan chức không rõ tên đã đặt tên vùng đất này là Đà Lạt, có nghĩa là ” con suối của dân tộc Lat “. Sau đó, một nhân vật có hiểu biết kinh điển đã tạo ra một châm ngôn quảng bá, một acronym ghép từ những chữ cái đầu tiên của câu tiếng la tinh ” dat aliis laetitiam aliis temperiem – cho những người này niềm vui, những người khác khí hậu dễ chịu.”

Nói tóm lại, nguồn gốc địa danh Đà Lạt không phải xuất phát từ câu ” Dat aliis laetitiam, aliis temperiem “. Hiện nay thành phố cao nguyên này còn được nhắc đến với những tên gọi khác : ” Thành phố Mộng Mơ “, ” Thành phố buồn “, “Thành phố sương mù ” “Thành phố ngàn thông”, “Thành phố ngàn hoa”, “Xứ hoa Anh Đào” hay “Tiểu Paris”.

THÂN TRỌNG SƠN

 

Giải Thích Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Các Địa Danh Việt Nam

Thành phố Hải Phòng

Hải Phòng hay còn gọi là thành phố hoa phượng đỏ, là thành phố trực thuộc Trung ương gồm 1 thị xã, 4 quận, 8 huyện với 50 phường, 9 thị trấn, 157 xã. Tên Hải Phòng được Phạm Phú Thứ – một đại thần triều nhà Nguyễn đặt năm 1877. Ở đó có cơ quan Hải Phòng sứ, bảo vệ cửa biển.

Bà Rịa

Về địa danh Bà Rịa có 2 cách lý giải khác nhau:

Một bà tên Rịa có công với vùng này trong thế kỷ 19 nên tên bà được đặt cho địa phương.

Do phiên âm tên một nữ thần của người Chăm Po Riyak (thần trấn sóng).

Tuy nhiên thuyết thứ nhất thiếu tư liệu lịch sử nên không có cơ sở khoa học. Hơn nữa địa danh này đã có từ trước thế kỷ 19 (Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức khắc in khoảng năm 1820 đã nói tới).

Thuyết thứ hai có lý hơn vì có cơ sở ngữ âm và lịch sử. Từ địa danh Bà Rịa sinh ra hai địa danh Bà Biên và Bà Chợ.

Biên Hòa

Biên Hòa là thành phố công nghiệp và là tỉnh lỵ của tỉnh. Tên thành phố này có nguồn gốc Hán Việt.

Biên trong biên giới. Hòa trong hòa bình. Biên Hòa ở đây có nghĩa là hòa bình ở biên giới.

Tây Ninh

cũng là một địa danh Hán Việt như Biên Hòa kể trên. Là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam nổi tiếng với địa điểm du lịch núi Bà Đen. Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm Pênh, vương quốc Campuchia và là một trong những tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Và Tây Ninh có nghĩa là yên ổn về chính trị ở phía tây.

Trà Vinh

là thành phố nằm bên bờ sông Tiền, là tỉnh lỵ tỉnh Trà Vinh. Thành phố Trà Vinh nằm trên Quốc lộ 53 cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km. Trà Vinh xuất phát từ “prha trapenh” có nghĩa là ao, ao Phật hay ao linh thiêng. Vì cho rằng ngày xưa người ta đã đào được tượng Phật dưới ao ở vùng đất này. Đây là một địa danh gốc Khmer.

Kon Tum và Plei Ku ( Plây Ku)

Là hai trong năm tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên.

Trong đó Kon trong Kon Tum có nghĩa là làng, Tum có nghĩa là hồ ao. Vậy Kon Tum có nghĩa là làng có nhiều ao, hồ. Địa danh Kon Tum là địa danh có gốc dân tộc thiểu số mà cụ thể là dân tộc Ba Na.

Plei cũng mang nghĩa là làng, Ku có nghĩa là cái đuôi, phần cuối. Địa danh Plei Ku có nghĩa là làng cuối. Đây là địa danh gốc dân tộc Gia Rai

Quảng Nam

Là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam mà người ta vẫn hay gọi là ” Quảng Nôm”. Nổi tiếng với nhiều địa du lịch như phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn,…

Có thể thấy được miền Trung có khá nhiều địa danh mang yếu tố quảng. Bởi vì đây là một dải đất hẹp nên việc đặt tên các địa danh mang yếu tố quảng là với mong muốn sự rộng lớn, bao la vì từ quảng mang nghĩa như vậy.

Quảng Nam ở đây thì mang ý nghĩa mở rộng về phía nam.

Tam Kỳ

(Còn nữa….)

Là một thành phố trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, địa danh này có gốc Hán Việt. Có thể giải thích như sau: tam có nghĩa là ba, kỳ là nhánh, ba nhánh tức ngã ba. Vậy Tam Kỳ là ngã ba

Xem phần 1

Cập nhật thông tin chi tiết về Địa Danh Đồng Nai: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Quá Trình Phát Triển trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!