Xu Hướng 2/2023 # Giải Thích Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa 33 Địa Danh Ở Miền Tây Nam Bộ # Top 2 View | Eduviet.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giải Thích Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa 33 Địa Danh Ở Miền Tây Nam Bộ # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Giải Thích Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa 33 Địa Danh Ở Miền Tây Nam Bộ được cập nhật mới nhất trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ý nghĩa tên địa danh An GiangAn Giang có phiên âm tiếng Hán Việt nghĩa là vùng sông nước an lành. Tuy nổi tiếng với Châu Đốc 7 vùng núi nhưng hệ thống thủy lợi luôn là thế mạnh của An Giang từ trước đến nay. Sông Tiền và sông Hậu chảy song song qua An Giang dài đến hơn 100km.

Ý nghĩa tên địa danh Bạc LiêuPhiên âm Hán Việt đọc là Pô Léo. Nó có nghĩa là xóm nghèo làm nghề chài lưới, đi biển. Đặc biệt Bạc Liêu là vùng duyên hải giáp biển. Vì thế trước đây thường có nhiều xóm chày.

Ý nghĩa tên địa danh Bến TreBắt nguồn từ tiếng Khmer là Srôk kompong Trey. Sau này người Kinh dịch chữ Srôk thành Bến và giữ phiên âm Tre lại. Bến Tre đặc biệt nổi tiếng với một loại trái cây là dừa.

Ý nghĩa tên địa danh Búng Bình ThiênBúng Bình Thiên có nghĩa là Hồ nước trời. Đây là một địa danh nổi tiếng ở tỉnh An Giang. Búng Bình Thiên có 2 hồ nước là Búng Lớn và Búng Nhỏ (Tên gọi được chia theo diện tích của 2 hồ).

Ý nghĩa tên địa danh Cái Răng

Cái Răng có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Karan. Đọc phiên âm là Cà Ràng. Đây là một loại đồ dùng làm bếp khá thông dụng trước đây. Nó thường được bán rất nhiều ở chợ nổi trước đây. Hiện Cái Răng là một quận thuộc thành phố Cần Thơ. Chắc chắn bạn sẽ biết đến chợ nổi Cái Răng – một địa danh du lịch thuộc quận Cái Răng.Ý nghĩa tên địa danh Cái TắcCái Tắc có tên gốc là Cái Tắt. Cần Thơ trước đây nổi tiếng với nhiều kênh ngòi chằng chịt chảy khắp mọi nơi. Dòng sông trải dài thường có những lối tắt di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Sau này người ta sửa lại thành Cái Tắc. Đây là một địa danh thuộc tỉnh Hậu Giang (Sau khi tách tỉnh ra từ Cần Thơ).

Ý nghĩa tên địa danh Cà MauCà Mau có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Tưk Khmau. Nó có nghĩa là vùng nước đen. Cà Mau trong thời kỳ khai hoang trước đây nổi tiếng là vùng rừng thiêng nước độc. Trước đây nó có màu đen đặc trưng dưới nước.

Ý nghĩa tên địa danh Càng LongCàng Long không phải có nguồn gốc là tên vị vua Trung Quốc mà là từ tiếng Khmer. Từ đó là Kânlóng – Nghĩa là con ông bầu, một con vật có rất nhiều tại địa phương này trước đây. Càng Long hiện là 1 thị trấn thuộc tỉnh Trà Vinh.

Ý nghĩa tên Cần ThơCần Thơ bắt nguồn từ tiếng Khmer là Kìn Tho. Nó có nghĩa là cá sặc rằng. Một loại cá khá thông dụng ở vùng đất này trước đây.Tìm hiểu nét văn hóa thú vị qua: Ngôi chùa cổ nhất tại Cần Thơ.

Ý nghĩa tên Cao LãnhCao Lãnh đọc chệch từ Câu Lãnh. Tên của một người làm chức câu đương và tên Lãnh ngày xưa ở địa phương này. Dân gian tương truyền lại câu chuyện, trước đây làng bị dịch bệnh. Vì đương chức câu đương nên ông Lãnh đứng ra lập đần cầu trời và ăn chay. Chẳng may khi ăn chay được 3 ngày bà Lãnh qua đời, ông cũng mất theo khi làm ma chay cho bà xong. Khi ấy dịch bệnh cũng dần lui mất. Dân làng thấy ông linh thiêng nên sửa tên làng là Câu Lãnh. Về sau đọc trại lại thành Cao Lãnh.

Ý nghĩa tên Cù Lao DungCù Lao Dung có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Kaôh Tũng. Nghĩa là cù lao bồ nông. Trước đây khu vực này có nhiều loài chim bồ nông. Cù Lao Dung thuộc tỉnh Sóc Trăng nằm giữa dòng sông Hậu.

Ý nghĩa tên Đồng ThápCó nhiều cách lý giải về cái tên Đồng Tháp khác nhau. Mình xin nêu 1 lý do được xem là có lý nhất là trước đây khu vực này là đồng bằng khá bằng phẳng. Đây cũng là nơi có ngọn tháp thứ 10 tính từ Lục Chân Lạp. Vì thế người ta gọi đây là Đồng Tháp Mười. Sau này thường gọi là Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Giá RaiGiá Rai là khu vực có cây giá mọc lưa thưa. Đây là một địa danh thuộc tỉnh Bạc Liêu.

Ý nghĩa tên Gò QuaoTên gọi Gò Quao là vì gò đất này có nhiều cây quao. Hiện tại Gò Quao là một địa danh thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ý nghĩa tên Hà TiênHà Tiên có nhiều cách lý giải khác nhau về xuất xứ tên. Một cách giải thích có lý nhất là tên gọi xưa vùng đất này là Tà Teng, sau này đọc thành Hà Tiên. Một cách giải thích khác là vì Mạc Cửu (Người khai phá nơi đây) nhìn thấy vùng đất này có tiên hạ xuống. Nơi đây lại là vùng đất có biển nên gọi là Hà Tiên. Hiện nay địa danh Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ý nghĩa tên Hồng DânHồng Dân là tên của chiến sĩ chống Pháp – Trần Hồng Dân. Đây là một địa danh thuộc tỉnh Bạc Liêu hiện nay.

Ý nghĩa tên Kế SáchKế Sách xuất phát từ tiếng Khmer là Khsachâm. Nó có nghĩa laf cát sỏi. Vì trước đây vùng đất này có tính chất chứa nhiều cát sỏi. Hiện nay Kế Sách là một địa danh thuộc tỉnh Sóc Trăng.

Ý nghĩa tên Lai VungLai Vung bắt nguồn từ tiếng Khmer là Srôk sla tampung. Nó có nghĩa là trái cau già rũ trên cây. Đây là một loại đặc sản mang tên cau tầm vung, được bay bán rất nhiều ở địa phương này trước đây. Hiện nay Lai Vung là địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay Lai Vung nổi tiếng với đặc sản là những vườn quýt Lai Vung.

Ý nghĩa tên Lấp VòLấp Vò bắt nguồn từ tiếng Khmer là Srôk Tak Por. Có nghĩa là xứ trét thuyền. Đây là một công đoạn trong việc sửa chữa ghe thuyền trước đây. Một nghề truyền thống cũ khá thông dụng ở Lấp Vò ngày xưa. Hiện Lấp Vò là một địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Long AnLong An được dịch nghĩa đơn giản theo Hán Việt. Long là hưng thịnh, An là an ổn. Cái tên Long An để chỉ vùng đất yên ổn và hưng thịnh.

Ý nghĩa tên Mỹ ThoMỹ Tho có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Srôk Mỳ Xó. Nó có nghĩa là xứ nàng trắng. Nó chỉ việc ở vùng đất này có nhiều cô gái xinh đẹp da trắng. Mỹ Tho là địa danh thuộc tỉnh Tiền Giang hiện nay.

Ý nghĩa tên Ô MônÔ là Vũng, Môn là cây môn. Bạn có thể hiểu đơn giản đây là vùng đất trồng nhiều cây môn nước. Hiện nay Ô Môn là một quận thuộc tỉnh Cần Thơ.

Ý nghĩa tên Phú QuốcPhú Quốc được những người Tàu đặt tên khi đến đây. Nó đơn giản được hiểu là vùng đất giàu có. Ngay cả hiện nay, Phú Quốc vẫn là một hòn đảo ngọc xinh đẹp và nhiều tài nguyên quý giá.

Ý nghĩa tên Rạch GiáRạch bắt nguồn từ chữ prêk của người Khmer. Giá là tên một loại cây thông dụng ở vùng đất này trước đây. Rạch Giá hiểu đơn giản là con rạch có nhiều cây giá. Hiện Rạch Giá là một địa danh thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ý nghĩa tên Sa ĐécSa Đéc bắt nguồn từ tiếng Khmer là Phsar Dek. Đây còn có nghĩa là chợ sắt, một khu chợ bán đồ dùng sắt trước đây. Một giả thuyết khác cho rằng Phsar Dek là tên một vị thần cổ của người Khmer trước đây. Sa Đéc hiện là địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Sóc TrăngSóc Trăng có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Srôk Kléang. Nó có nghĩa là xứ có chứa vàng bạc của nhà vua. Tuy vậy cũng có cách giải thích khác là chữ Trăng xuất phát từ Tréang – có nghĩa là cây sậy. Đó là loại cây có khá nhiều tại vùng đất này trước đây.

Ý nghĩa tên Gò CôngGò Công có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Kaôh Kông. Nó có nghĩa là cù lao Cồng Chiêng. Sau này người Kinh dịch từ Kaôh thành Gò và đọc là Gò Công. Hiện nay Gò Công là 1 địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Tịnh BiênTịnh Biên phiên âm theo tiếng Hán Việt là biên giới bình yên. Tịnh Biên nằm giáp với biên giới Campuchia. Hiện Tịnh Biên là một địa danh thuộc tỉnh An Giang.

Ý nghĩa tên Trà CuônTrà Cuôn có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Prêk TraKun. Nó có nghĩa là rạch rau muống. Vì trước đây khu vực này có con rạch với rất nhiều loài rau muống. Hiện Trà Cuôn là một địa danh thuộc tỉnh Trà Vinh.

Ý nghĩa tên Trà ÔnNguồn gốc cái tên Trà Ôn từ tiếng Khmer là Traòn. Nghĩa từ đó là cây môn. Đơn giản vì vùng đất này trước đây có rất nhiều cây môn. Hiện Trà Ôn là địa danh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Ý nghĩa tên Trà VinhTrà Vinh là tên gọi có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Préah Trapeng. Nó có nghĩa là tượng Phật trong ao nhỏ. Vì trước đây khi mưa lớn, có 1 tượng Phật trôi sông dạt vào vùng đất này.

Ý nghĩa tên Vĩnh Long

Vĩnh Long là tên được đặt theo phiên âm Hán Việt. Vĩnh là vĩnh viễn, mãi mãi. Long là hưng thịnh. Vĩnh Long là sự hưng thịnh bền lâu mãi mãi. Nguồn gốc của cái tên Vĩnh Long được nhiều người xưa rằng vì Vĩnh Long trước đây thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Ghép hai địa danh đó lại sau khi tách đất lập tỉnh (sửa Viễn thành Vĩnh) mới nên có cái tên Vĩnh Long.

Nguồn Gốc Một Số Địa Danh Nam Bộ

Thành phố Cần Thơ

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hoá đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hoá một cách tài tình.

Mỹ Tho: Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, “mỹ” và “tho”, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock,chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

Nhà thờ Chánh Tòa – Mỹ Tho

Sóc Trăng Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng.

Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn. Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).Đến thời ông Diệm, lại gọi là tỉnh Ba Xuyên,châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

Chế Vỹ Tân: Nguồn Gốc Địa Danh…

NGUỒN GỐC CỦA MỘT SỐ ĐỊA DANH THUỘC NINH THUẬN VÀ BÌNH THUẬN

Kì01.

CÀ NÁ Trước đây cũng như hiện nay, Cà Ná là một địa điểm du lịch của cực nam Trung bộ, nổi tiếng về cảnh đẹp núi biển ôm sát nhau. Cà Ná còn là vùng có những cây mai vàng năm cánh rất đẹp. Mỗi độ xuân về, toàn đồi núi khu vực này rực lên một màu vàng nhạt tựa như một bức tranh huyền ảo… Cách biển một cây số về hướng Tây, tọa lạc một làng Chăm – làng Rabha Ralauw – nay không còn nữa. Phía trên nữa có con suối nước rất trong, chảy róc rách quanh năm; trước kia người dân địa phương gọi là Suối Tiên, ngày nay chính là Suối Vĩnh Hảo… Lúc bấy giờ, từ “Quốc lộ số 1” (ngày nay), lại có một con đường tẻ lên làng Chăm và Suối Tiên. Ngã ba đó, người Chăm gọi là Canah kluw (đọc là Chanah klău); Canah có nghĩa là tẻ ra, kluw nghĩa là ba (ngã ba). Người Việt đọc trại ra thành “Cà ná lâu”, về sau chữ “lâu” này rụng đi, chỉ còn lại “Cà na”.

THỊ NẠI hay NẠI Dọc theo duyên hải miền Trung Việt Nam, chúng ta tìm thấy nhiều địa danh mang tên Thị Nại hoặc Nại. Tại tỉnh Ninh Thuận, thôn Dư Khánh thuộc xã Khánh Hải, huyện Ninh Hải, cũng có tục danh là NẠI. Vậy thì “Nại” này có nguồn gốc từ đâu? Xưa kia, người Chăm sinh sống dọc bờ biển thường làm nghề đánh cá. Mỗi buổi sáng hay buổi chiều đều có các thuyền đánh cá tấp vào một vài nơi nhất định (nơi có những cư dân đông đúc) để bán cá. Do đó, về lâu về dài, những nơi này hình thành những “chợ nhỏ”, chủ yếu là để bán cá tươi cho người địa phương và các dân buôn. “Chợ nhỏ” đó tên Chăm là darak naih (darak là chợ, naih là nhỏ), đọc là “tàrạk neh”. Người Kinh dịch chữ darak là Thị, còn chữ naih lại ngỡ là danh từ riêng, nên cứ gọi là Né hay Thị Né. (Sự chuyển đổi từ phụ âm cuối Chăm h sang thanh hỏi hay nặng trong tiếng Việt là điều thường gặp). Vì thế, chữ Né và Thị Né đọc trại ra thành NẠI hay THỊ NẠI, và các từ này tồn tại cho đến ngày hôm nay.

SÔNG DINH Tại thị xã Phan Rang – Tháp Chàm thuộc tỉnh Ninh Thuận, có con sông Cái từ thượng nguồn chảy về biển, băng ngang qua phía Nam thị xã này. Người địa phương gọi con sông đó là Sông Dinh. Từ Dinh này có phải có nguồn gốc từ tiếng Chăm không? Theo chúng tôi, có lẽ từ Dinh xuất phát từ chữ DING (đọc là Tìng) của người Chăm. Ding có nghĩa là phố, nau ding có nghĩa là đi xuống phố. Con sông chảy ngang phố (phía nam Phan Rang), người Chăm gọi là KRAUNG DING (có nghĩa là Sông Phố), và người Kinh phiên âm ra thành SÔNG DINH, theo âm tiếng Chăm đọc trại ra.

SÔNG MAO Sông Mao là một địa danh thuộc tây bắc huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận, trước đây (sau giải phóng) là huyện lỵ của huyện Bắc Bình. Theo hiểu biết của chúng tôi, từ Sông Mao có nguồn gốc khá lí thú! Qua sự giải thích của một thân hào Chăm, chúng ta có thể hiểu như sau: Trong khu vực Sông Mao bây giờ có đồng ruộng của người Chăm tục gọi là Hamu Pa-auk (đọc là pa-ó, nghĩa là cây xoài). Cạnh ga Sông Mao có một con sông nhỏ người Chăm gọi là kraung pa-auk. Người Kinh dịch thành SÔNG PA-Ó. Chuyển đổi âm từ P của Chăm sang M của Việt: từ Sông Pa-ok được viết là Sông MA-Ó. Vả lại thời Pháp thuộc dấu sắc ở nguyên âm o không thể hiện được trên máy đánh chữ (ó thành o), vì vậy trong các văn bản hành chánh thời đó ta thường thấy viết Sông Ma-o. Sau này, dấu ngang rụng đi do cách đọc gộp thành một âm của những người Pháp (thời Pháp thuộc), cuối cùng ta có từ SÔNG MAO của ngày hôm nay.

* Trong Tagalau4.

Kì02.

Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết mà các sách địa lý thường gọi là “Tam Phan”, được cả nước biết đến là do đặc điểm ít mưa nhiều nắng nhất nước. Đây là 3 địa danh thuộc cực nam Trung bộ, xưa kia thuộc đất Panduranga, tiểu bang cực nam của xứ Champa cũ. Theo chúng tôi tìm hiểu thì cả 3 từ này đều có nguồn gốc từ tiếng Chăm.

PHAN RANG là biến dạng của từ Chăm: PA-NRANG, hay còn được gọi là PANDARANG. Đó là từ địa phương viết theo tiếng Chăm hiện đại (akhar thrah) để chỉ vùng tỉnh Ninh Thuận ngày nay. Thông thường các nhà nghiên cứu Việt nam và nước ngoài hay nhầm lẫn giữa 2 danh từ Pandarang và Panduranga vì cho 2 từ này chỉ là một (đồng nghĩa với nhau). Sự thật không phải thế, vì Panduranga là tiếng Phạn (Sanscrit) dùng để chỉ vùng đất chung của cả 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay, đúng hơn là cả một phần của Đồng Nai nữa, vì các sách cổ Chăm luôn nhắc đến Đồng Nai thượng và Đồng Nai hạ, khi nói đến Panduranga (theo E.Durand. P.B.Lafont và L.Finot).

PHAN RÍ: Đây là phiên âm của danh từ Chăm PA-RIK, địa danh chỉ vùng nằm giữa KRONG (tức sông Lòng Sông hay huyện Tuy Phong hôm nay) và PAJAI (tức Phố Hài). Panrang – Kraung – Parik – Pajai là 4 vùng chính của Panduranga cũ đang có đông cư dân Chăm. PHAN THIẾT: Đây là sự biến dạng của từ Chăm HAMU LITHIT (Ruộng Lithit). Người Chăm thường gọi tắt là Mu Thit, nên trước đây được phiên âm là Man Thiết (thời Pháp thuộc) trước khi trở thành Phan Thiết của ngày hôm nay.

LADI: tức là vùng huyện Hàm Tân bây giờ (thuộc tỉnh Bình Thuận), xưa kia là đất Nưgar LADIK của xứ Panduranga cũ (đọc là La-tik theo âm Chăm). Danh từ LADIK được phiên âm thành La Di ngày nay.

SÔNG LA NGÀ: Đây là con sông bắt nguồn từ bình nguyên Lâm Đồng, chảy qua các huyện phía nam tỉnh Bình Thuận để đổ xuống biển Đông. Vậy, từ La Ngà có nguồn gốc từ đâu? Đây không phải là một danh từ Chăm. La Ngà có nguồn gốc từ tiếng Kơho, vì sông này có dòng chảy băng qua các vùng cư trú của đồng bào Kơho. Vào mùa hạ, sông này khô nước, lòng sông nổi lên nhiều đá cuội đen trắng lấp lánh dưới ánh mặt trời giống như một bãi phơi hạt mè màu trắng đen vậy. Vì thế mà người Kơho đặt tên con sông này là sông LƠNGA – sông Hạt Mè (Lơnga là hạt mè (vừng – theo Từ điển Việt – Kơho, Sở VHTT Lâm Đồng, 1983, tr.164). Người Việt phiên âm là La Ngà. Người Kơho còn gọi con trâu trắng có chấm đen li ti là “rơpu lơnga” (con trâu hạt mè).

CỔ HỦ: là tục danh của làng Mỹ Tường thuộc xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Làng này tọa lạc gần biển, và trước đây mang địa danh là BAL HUH của Champa cũ (Bal: thủ đô, đây là thủ đô tạm thời khi phải di chuyển về phía nam do chiến cuộc cũng như sau này chuyển về Bal Ywa, Bal Lai, Bal Caung (1)… trước khi đến Bal Canar ở Phan Rí là thủ đô cuối cùng). Sau này khi không còn Bal nữa, người Chăm chỉ gọi gọn địa danh này là HUH. Chính từ HUH này đã được phiên âm biến thành Cổ Hủ.

HÒA LAI: là một địa danh ở bắc Ninh Thuận thường được gọi là Ba Tháp, thuộc xã Tân Hải, huyện Ninh Hải. Trên quốc lộ số 1, du khách bắt gặp hai ngọn tháp Chăm cổ kính tọa lạc phía đông con đường, cách ranh giới Khánh Hòa – Ninh Thuận khoảng 8 km (ngọn thứ ba đã bị đổ nát từ lâu). Nơi đây chính là HÒA LAI. Xưa kia địa danh này mang tên là BAL LAI (thủ đô đã điêu mất). Chính từ Bal Lai này đã được phiên âm thành Hòa Lai.

GÒ ĐỀN là tên gọi của một làng Công giáo tọa lạc giữa Hòa Lai và Hộ Diêm, thuộc xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh NinhThuận. Khu vực này là một gò lớn, và ở giữa gò ấy có một cái đền của người Chăm. Đền này đã đổ nát và ngay trên địa điểm đó bây giờ nhà thờ Công giáo được xây dựng lên. Vậy địa danh Gò Đền mang đặc điểm của khu đât này: đất GÒ có ĐỀN của người dân tộc Chăm.

GÒ SẠN là tên gọi một làng nằm sát phái bắc Gò Đền. Đây cũng là vạt đất gò cao tiếp nối với vạt đất Gò Đền. Vạt đất này là đất sạn (đá sỏi nhỏ). Chính vì đặc điểm này mà người dân địa phương mới đặt tên là Gò Sạn.

CÀ ĐÚ, CHÀ BANG Đây là tên gọi 2 hòn núi ở phía bắc và phía nam tỉnh Ninh Thuận.

CÀ ĐÚ là hòn núi ở phía tây Đầm Nại, thuộc xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải. Nơi đây có làng mang tên là làng Cà Đú (nay đổi lại thành thôn Lương Cách). Cà Đú là một từ Chăm xuất phát từ tên gọi hòn núi KAĐUK nói trên. Từ Kađuk được phiên âm ra tiếng Việt là Cà Đú. CHÀ BANG là tên gọi hòn núi ở phía bắc thôn Văn Lâm (cách chừng 7 km) thuộc xã Phước Nam, huyện Ninh Phước. Người Chăm thường gọi là Cơk Cabbang, có nghĩa là hòn núi có ngọn tẻ đôi như “cabbang” (chữ V). Người Việt phiên âm thành Chà Bang.

PALEI RƠM (đọc là râm). Từ RƠM này rất gần gũi với người Chăm, nhưng rất ít người Chăm hiểu nghĩa chính xác của nó là gì. Xin nói rõ Palei Rơm là tục danh của thôn Văn Lâm (thuộc xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận). Từ trước đến nay đại đa số người Chăm chỉ hiểu từ “râm” là rừng rậm; từ đó suy diễn ra một cách lôgic là trước đây khu vực này toàn rừng rú rậm rạp, đầy thú dữ. Nhưng khi đọc lại các văn bản cổ Chăm, ta mới hiểu từ “râm” còn có nghĩa khác là: “đất gò” (đất cao), nhất là khi tra cứu từ điển Malaysia thì ta càng sáng tỏ hơn, chữ “râm” đúng có nghĩa là “đất gò”. Vậy “Palei Rơm” có nghĩa là thôn Đất Gò, và nói theo tiếng Chăm thông thường là Palei Tabbok (đọc là tabôk). Rõ ràng chúng ta đang sử dụng từ ngữ đó mà không nhận ra Tabbok Gah: chỉ ấp Gò Dưới, Tabbok Krưh: chỉ ấp Gò Giữa, và Ram Ngauk để chỉ ” ấp Gò Trên” đó sao?

(1) Chú thích: thứ tự này là do tác giả suy luận theo lôgic từ biển lên giữa đất liền, và từ bắc xuôi về nam tại Pandarang, chứ không tìm ra trong tư liệu nào. Vậy tính chính xác không được đảm bảo.

* Trong Tagalau5.

Kì03.

ĐÀ NẴNG. Là biến dạng của từ Chăm DAKNAN. Theo tài liệu của cụ Bố Thuận (nhà nghiên cứu Chăm, gốc Phan Rí, sống vào đầu thế kỷ XX) thì chữ dak có nghĩa là nước (Chăm cổ), nan hay nưn (tức lanưng) là rộng. Địa danh Daknan hàm ý chỉ vùng sông nước rộng mênh mông (cửa sông Hàn bây giờ). Người Việt phiên âm ra thành Đà Nẵng. Tourane. Vào thời Pháp thuộc (và trước đó), địa danh Đà Nẵng thường được gọi là Tourane. Vậy từ Tourane này do đâu mà ra? Cũng theo tài liệu của cụ Bố Thuận thì chữ DAKNAN của Chăm người Trung Hoa gốc Hải Nam đọc là TOUNAN, do đó mà phiên âm thành Tourane.

CÙ LAO CHÀM. Đó là một hòn đảo ở ngoài khơi tỉnh Quảng Nam. Trước đây, cù lao này là nơi cư trú của các dân chài Chăm (tức Chàm) và dĩ nhiên mang tên Chăm. Rất tiếc hôm nay không ai còn nhớ. Về sau, qua biến đổi của lịch sử, người Chăm đã di tản đi nhiều nơi (có lẽ đông nhất là Hải Nam của Trung Quốc) và người Việt gọi địa danh này là Cù lao Chàm, nghĩa là cù lao của người Chăm cư trú trước đây.

SÔNG CAM LỘ. Sông Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị, có lẽ có nguồn gốc từ chữ Ca Lo, hay còn gọi là Khu Lu, và danh từ này đã được phiên âm ra thành Cam Lộ của ngày nay.

BỒNG MIÊU. Bồng Miêu là một vùng đồi núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Xưa kia những đồi này có nhiều vàng mà người Chăm đã từng khai thác. Chính vì vậy mà vùng này mang địa danh Chăm là Bbon Amưh (Đồi vàng), và được phiên âm thành Bồng Miêu.

TRÀ BỒNG, SƠN TRÀ, TRÀ KHÚC, TRÀ MI. Đó là những địa danh thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Những từ ngữ này gợi lại những âm Chăm: Chữ Trà là phiên âm của chữ phạn Jaya (một trong 4 họ chính thống Ôn, Trà, Ma, Chế của người Chăm).

SÔNG ĐÀ RẰNG. Đó là con sông chảy qua phía nam Thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên. Từ Đà Rằng mang âm Chăm và có nguồn gốc từ chữ Dairios (tên của con sông này trước kia). Chính từ này lại được phiên âm từ chữ Dak Riong, có nghĩa là sông sâu hầm hố (từng chữ một: hầm hố liên tiếp). Từ chữ Dairios, người Việt phiên âm thành Đà Rằng.

ĐẬP ĐỒNG CAM. Đập Đồng Cam tọa lạc tại Phú Yên, nơi có đồng ruộng lúa nước lớn nhất miền Trung. Đập này xưa kia chắc chắn mang tên Chăm nhưng nay không ai còn nhớ nữa. Người Việt đặt tên đập này là Đập Đồng Chàm, nghĩa là đập của đồng lúa người Chàm trước đây. Nhưng vào thời Pháp thuộc, người Pháp viết là Cam (chữ Cam họ viết theo bộ chữ cái Chăm theo hệ thống latinh hóa của E.Aymonier trong đó chữ C mang âm Ch). Nhưng hôm nay chúng ta đọc theo chữ cái Việt thành “Cam” thay vì Cham.

VẠN GIÃ. Dãy núi trùng điệp tạo ra Đèo Cả ở bắc Khánh Hòa trước đây mang tên Kauthara (cũng là tên Tiểu vương quốc của Thánh địa Po Nagar). Nhiều học giả Chăm khẳng định từ Vạn Giã là biến dạng của chữ Kauthara vậy.

NHA TRANG. Thành phố thuộc xứ Kauthara cũ, người Chăm thường gọi là Ia Trang (Ia là nước, Trang là đan chéo) hàm ý chỉ nơi có hai luồn nước chảy đan chéo nhau. Danh từ Ia Trang được phiên âm ra thành Nha Trang ngày nay. Cũng có một nhận định khác là chữ Trang (trong Ia trang) có nghĩa là lau, sậy. Và từ Ia Trang dùng để chỉ vùng sông nước có nhiều lau sậy.

* Trong Tagalau6.

VN:F [1.9.22_1171]

please wait…

Rating: 7.4/10 (19 votes cast)

VN:F [1.9.22_1171]

Rating: +2 (from 2 votes)

,

7.4

out of

10

based on

19

ratings

Nguồn Gốc Địa Danh Đà Lạt Là Gì

 

 

Có ý kiến cho là Đà Lạt là cách đọc trại ( hay viết sai chính tả ? ) của Đa Lạc, nhiều niềm vui, viện dẫn địa danh của nhiều thôn xóm, khu phố của thành phố này như Đa Lợi, Đa Lộc, Đa Thành, Đa Lợi, Đa Thiện… Xem ra đây chỉ là một lý giải dễ dãi, hời hợt, thiếu chứng cứ, ít thuyết phục.

Cách giải thích được chính thức công nhận cho rằng: Địa danh Đà Lạt được bắt nguồn từ chữ Đạ Lạch, tên gọi của con suối Cam Ly. Khởi nguồn từ huyện Lạc Dương, dòng suối Cam Ly chảy qua khu vực Đà Lạt theo hướng bắc – nam, trong đó đoạn từ khoảng hồ Than Thở tới thác Cam Ly ngày nay được gọi là Đạ Lạch. Theo ngôn ngữ của người Thượng, Đạ hay Dak có nghĩa là nước, người Lạch (hay còn viết Làc, Lat, M’Lates) là tên gọi của một nhóm cư dân nhỏ người Kơ ho, sống lâu đời trên cao nguyên Lang Bian. “Lạch”, theo tiếng địa phương, có nghĩa là “rừng thưa” dùng để chỉ vùng rừng thông, đồi trọc từ dãy Lang Bian trải dài xuống Tây Nam, bao gồm cả thành phố Đà Lạt ngày nay

Tên gọi Đà Lạt (Đạ Lạch) có nghĩa nước hay suối của người Lạch (Lát) .

Ngay ông Cunhac, viên Công sứ đầu tiên của thành phố Đà Lạt cũng hiểu Đà Lạt như vậy. “À la place du lac coulait le petit ruisseau de la tribu des Lat et qu’on appelait “Dalat” (Da au Dak: eau en moi)”. ( Ở chỗ hồ nước có dòng suối nhỏ của bộ tộc Lat chảy qua mà người ta gọi là Dalat – Da hay Dak nghĩa là nước theo tiếng Thượng ). Và Stanley Karnow, một sử gia nổi tiếng của Mỹ, trong bài Return to Dalat đăng trong “Smithsonian Magazine”, một tạp chí Nhân Văn Khảo Cổ uy tín, cũng có ý kiến tương tự:

Nằm ở độ cao khoảng 5000 feet ( 1500m ) so với mặt nước biển, cao nguyên có số dân thưa thớt gồm các sắc tộc miền thượng; năm 1893, Alexandre Yersin, một nhà khoa học gốc người Thuỵ Sĩ, với sở thích mạo hiểm, đã đi bộ lên vùng này. ( Yersin , người điều hành việc nghiên cứu tại Viện Pasteur Paris, sau này sang Trung Quốc, và phát hiện trực khuẩn gây bệnh dịch hạch lúc đó đang hoành hành ở châu Á và đe doạ phương Tây. ) Vẻ đẹp hoang sơ và khí hậu trong lành đã gây cho Yersin ấn tượng mạnh nên ông ra sức thuyết phục giới cầm quyền thực dân Pháp phát triển nơi này thành một trung tâm nghỉ dưỡng. Theo một vài nguồn tin, một quan chức không rõ tên đã đặt tên vùng đất này là Đà Lạt, có nghĩa là ” con suối của dân tộc Lat “. Sau đó, một nhân vật có hiểu biết kinh điển đã tạo ra một châm ngôn quảng bá, một acronym ghép từ những chữ cái đầu tiên của câu tiếng la tinh ” dat aliis laetitiam aliis temperiem – cho những người này niềm vui, những người khác khí hậu dễ chịu.”

Nói tóm lại, nguồn gốc địa danh Đà Lạt không phải xuất phát từ câu ” Dat aliis laetitiam, aliis temperiem “. Hiện nay thành phố cao nguyên này còn được nhắc đến với những tên gọi khác : ” Thành phố Mộng Mơ “, ” Thành phố buồn “, “Thành phố sương mù ” “Thành phố ngàn thông”, “Thành phố ngàn hoa”, “Xứ hoa Anh Đào” hay “Tiểu Paris”.

THÂN TRỌNG SƠN

 

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Thích Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa 33 Địa Danh Ở Miền Tây Nam Bộ trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!