Xu Hướng 2/2024 # Giải Thích Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa 33 Địa Danh Ở Miền Tây Nam Bộ # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Giải Thích Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa 33 Địa Danh Ở Miền Tây Nam Bộ được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ý nghĩa tên địa danh An GiangAn Giang có phiên âm tiếng Hán Việt nghĩa là vùng sông nước an lành. Tuy nổi tiếng với Châu Đốc 7 vùng núi nhưng hệ thống thủy lợi luôn là thế mạnh của An Giang từ trước đến nay. Sông Tiền và sông Hậu chảy song song qua An Giang dài đến hơn 100km.

Ý nghĩa tên địa danh Bạc LiêuPhiên âm Hán Việt đọc là Pô Léo. Nó có nghĩa là xóm nghèo làm nghề chài lưới, đi biển. Đặc biệt Bạc Liêu là vùng duyên hải giáp biển. Vì thế trước đây thường có nhiều xóm chày.

Ý nghĩa tên địa danh Bến TreBắt nguồn từ tiếng Khmer là Srôk kompong Trey. Sau này người Kinh dịch chữ Srôk thành Bến và giữ phiên âm Tre lại. Bến Tre đặc biệt nổi tiếng với một loại trái cây là dừa.

Ý nghĩa tên địa danh Búng Bình ThiênBúng Bình Thiên có nghĩa là Hồ nước trời. Đây là một địa danh nổi tiếng ở tỉnh An Giang. Búng Bình Thiên có 2 hồ nước là Búng Lớn và Búng Nhỏ (Tên gọi được chia theo diện tích của 2 hồ).

Ý nghĩa tên địa danh Cái Răng

Cái Răng có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Karan. Đọc phiên âm là Cà Ràng. Đây là một loại đồ dùng làm bếp khá thông dụng trước đây. Nó thường được bán rất nhiều ở chợ nổi trước đây. Hiện Cái Răng là một quận thuộc thành phố Cần Thơ. Chắc chắn bạn sẽ biết đến chợ nổi Cái Răng – một địa danh du lịch thuộc quận Cái Răng.Ý nghĩa tên địa danh Cái TắcCái Tắc có tên gốc là Cái Tắt. Cần Thơ trước đây nổi tiếng với nhiều kênh ngòi chằng chịt chảy khắp mọi nơi. Dòng sông trải dài thường có những lối tắt di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Sau này người ta sửa lại thành Cái Tắc. Đây là một địa danh thuộc tỉnh Hậu Giang (Sau khi tách tỉnh ra từ Cần Thơ).

Ý nghĩa tên địa danh Cà MauCà Mau có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Tưk Khmau. Nó có nghĩa là vùng nước đen. Cà Mau trong thời kỳ khai hoang trước đây nổi tiếng là vùng rừng thiêng nước độc. Trước đây nó có màu đen đặc trưng dưới nước.

Ý nghĩa tên địa danh Càng LongCàng Long không phải có nguồn gốc là tên vị vua Trung Quốc mà là từ tiếng Khmer. Từ đó là Kânlóng – Nghĩa là con ông bầu, một con vật có rất nhiều tại địa phương này trước đây. Càng Long hiện là 1 thị trấn thuộc tỉnh Trà Vinh.

Ý nghĩa tên Cần ThơCần Thơ bắt nguồn từ tiếng Khmer là Kìn Tho. Nó có nghĩa là cá sặc rằng. Một loại cá khá thông dụng ở vùng đất này trước đây.Tìm hiểu nét văn hóa thú vị qua: Ngôi chùa cổ nhất tại Cần Thơ.

Ý nghĩa tên Cao LãnhCao Lãnh đọc chệch từ Câu Lãnh. Tên của một người làm chức câu đương và tên Lãnh ngày xưa ở địa phương này. Dân gian tương truyền lại câu chuyện, trước đây làng bị dịch bệnh. Vì đương chức câu đương nên ông Lãnh đứng ra lập đần cầu trời và ăn chay. Chẳng may khi ăn chay được 3 ngày bà Lãnh qua đời, ông cũng mất theo khi làm ma chay cho bà xong. Khi ấy dịch bệnh cũng dần lui mất. Dân làng thấy ông linh thiêng nên sửa tên làng là Câu Lãnh. Về sau đọc trại lại thành Cao Lãnh.

Ý nghĩa tên Cù Lao DungCù Lao Dung có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Kaôh Tũng. Nghĩa là cù lao bồ nông. Trước đây khu vực này có nhiều loài chim bồ nông. Cù Lao Dung thuộc tỉnh Sóc Trăng nằm giữa dòng sông Hậu.

Ý nghĩa tên Đồng ThápCó nhiều cách lý giải về cái tên Đồng Tháp khác nhau. Mình xin nêu 1 lý do được xem là có lý nhất là trước đây khu vực này là đồng bằng khá bằng phẳng. Đây cũng là nơi có ngọn tháp thứ 10 tính từ Lục Chân Lạp. Vì thế người ta gọi đây là Đồng Tháp Mười. Sau này thường gọi là Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Giá RaiGiá Rai là khu vực có cây giá mọc lưa thưa. Đây là một địa danh thuộc tỉnh Bạc Liêu.

Ý nghĩa tên Gò QuaoTên gọi Gò Quao là vì gò đất này có nhiều cây quao. Hiện tại Gò Quao là một địa danh thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ý nghĩa tên Hà TiênHà Tiên có nhiều cách lý giải khác nhau về xuất xứ tên. Một cách giải thích có lý nhất là tên gọi xưa vùng đất này là Tà Teng, sau này đọc thành Hà Tiên. Một cách giải thích khác là vì Mạc Cửu (Người khai phá nơi đây) nhìn thấy vùng đất này có tiên hạ xuống. Nơi đây lại là vùng đất có biển nên gọi là Hà Tiên. Hiện nay địa danh Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ý nghĩa tên Hồng DânHồng Dân là tên của chiến sĩ chống Pháp – Trần Hồng Dân. Đây là một địa danh thuộc tỉnh Bạc Liêu hiện nay.

Ý nghĩa tên Kế SáchKế Sách xuất phát từ tiếng Khmer là Khsachâm. Nó có nghĩa laf cát sỏi. Vì trước đây vùng đất này có tính chất chứa nhiều cát sỏi. Hiện nay Kế Sách là một địa danh thuộc tỉnh Sóc Trăng.

Ý nghĩa tên Lai VungLai Vung bắt nguồn từ tiếng Khmer là Srôk sla tampung. Nó có nghĩa là trái cau già rũ trên cây. Đây là một loại đặc sản mang tên cau tầm vung, được bay bán rất nhiều ở địa phương này trước đây. Hiện nay Lai Vung là địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay Lai Vung nổi tiếng với đặc sản là những vườn quýt Lai Vung.

Ý nghĩa tên Lấp VòLấp Vò bắt nguồn từ tiếng Khmer là Srôk Tak Por. Có nghĩa là xứ trét thuyền. Đây là một công đoạn trong việc sửa chữa ghe thuyền trước đây. Một nghề truyền thống cũ khá thông dụng ở Lấp Vò ngày xưa. Hiện Lấp Vò là một địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Long AnLong An được dịch nghĩa đơn giản theo Hán Việt. Long là hưng thịnh, An là an ổn. Cái tên Long An để chỉ vùng đất yên ổn và hưng thịnh.

Ý nghĩa tên Mỹ ThoMỹ Tho có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Srôk Mỳ Xó. Nó có nghĩa là xứ nàng trắng. Nó chỉ việc ở vùng đất này có nhiều cô gái xinh đẹp da trắng. Mỹ Tho là địa danh thuộc tỉnh Tiền Giang hiện nay.

Ý nghĩa tên Ô MônÔ là Vũng, Môn là cây môn. Bạn có thể hiểu đơn giản đây là vùng đất trồng nhiều cây môn nước. Hiện nay Ô Môn là một quận thuộc tỉnh Cần Thơ.

Ý nghĩa tên Phú QuốcPhú Quốc được những người Tàu đặt tên khi đến đây. Nó đơn giản được hiểu là vùng đất giàu có. Ngay cả hiện nay, Phú Quốc vẫn là một hòn đảo ngọc xinh đẹp và nhiều tài nguyên quý giá.

Ý nghĩa tên Rạch GiáRạch bắt nguồn từ chữ prêk của người Khmer. Giá là tên một loại cây thông dụng ở vùng đất này trước đây. Rạch Giá hiểu đơn giản là con rạch có nhiều cây giá. Hiện Rạch Giá là một địa danh thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ý nghĩa tên Sa ĐécSa Đéc bắt nguồn từ tiếng Khmer là Phsar Dek. Đây còn có nghĩa là chợ sắt, một khu chợ bán đồ dùng sắt trước đây. Một giả thuyết khác cho rằng Phsar Dek là tên một vị thần cổ của người Khmer trước đây. Sa Đéc hiện là địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Sóc TrăngSóc Trăng có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Srôk Kléang. Nó có nghĩa là xứ có chứa vàng bạc của nhà vua. Tuy vậy cũng có cách giải thích khác là chữ Trăng xuất phát từ Tréang – có nghĩa là cây sậy. Đó là loại cây có khá nhiều tại vùng đất này trước đây.

Ý nghĩa tên Gò CôngGò Công có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Kaôh Kông. Nó có nghĩa là cù lao Cồng Chiêng. Sau này người Kinh dịch từ Kaôh thành Gò và đọc là Gò Công. Hiện nay Gò Công là 1 địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Tịnh BiênTịnh Biên phiên âm theo tiếng Hán Việt là biên giới bình yên. Tịnh Biên nằm giáp với biên giới Campuchia. Hiện Tịnh Biên là một địa danh thuộc tỉnh An Giang.

Ý nghĩa tên Trà CuônTrà Cuôn có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Prêk TraKun. Nó có nghĩa là rạch rau muống. Vì trước đây khu vực này có con rạch với rất nhiều loài rau muống. Hiện Trà Cuôn là một địa danh thuộc tỉnh Trà Vinh.

Ý nghĩa tên Trà ÔnNguồn gốc cái tên Trà Ôn từ tiếng Khmer là Traòn. Nghĩa từ đó là cây môn. Đơn giản vì vùng đất này trước đây có rất nhiều cây môn. Hiện Trà Ôn là địa danh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Ý nghĩa tên Trà VinhTrà Vinh là tên gọi có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Préah Trapeng. Nó có nghĩa là tượng Phật trong ao nhỏ. Vì trước đây khi mưa lớn, có 1 tượng Phật trôi sông dạt vào vùng đất này.

Ý nghĩa tên Vĩnh Long

Vĩnh Long là tên được đặt theo phiên âm Hán Việt. Vĩnh là vĩnh viễn, mãi mãi. Long là hưng thịnh. Vĩnh Long là sự hưng thịnh bền lâu mãi mãi. Nguồn gốc của cái tên Vĩnh Long được nhiều người xưa rằng vì Vĩnh Long trước đây thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Ghép hai địa danh đó lại sau khi tách đất lập tỉnh (sửa Viễn thành Vĩnh) mới nên có cái tên Vĩnh Long.

Ý Nghĩa Tên 33 Địa Danh Ở Miền Tây

Ý nghĩa tên địa danh An Giang

An Giang có phiên âm tiếng Hán Việt nghĩa là vùng sông nước an lành. Tuy nổi tiếng với Châu Đốc 7 vùng núi nhưng hệ thống thủy lợi luôn là thế mạnh của An Giang từ trước đến nay. Sông Tiền và sông Hậu chảy song song qua An Giang dài đến hơn 100km.

Ý nghĩa tên địa danh Bạc Liêu

Phiên âm Hán Việt đọc là Pô Léo. Nó có nghĩa là xóm nghèo làm nghề chài lưới, đi biển. Đặc biệt Bạc Liêu là vùng duyên hải giáp biển. Vì thế trước đây thường có nhiều xóm chày.

Ý nghĩa tên địa danh Bến Tre

Bắt nguồn từ tiếng Khmer là Srôk kompong Trey. Sau này người Kinh dịch chữ Srôk thành Bến và giữ phiên âm Tre lại. Bến Tre đặc biệt nổi tiếng với một loại trái cây là dừa.

Ý nghĩa tên địa danh Búng Bình Thiên

Búng Bình Thiên có nghĩa là Hồ nước trời. Đây là một địa danh nổi tiếng ở tỉnh An Giang. Búng Bình Thiên có 2 hồ nước là Búng Lớn và Búng Nhỏ (Tên gọi được chia theo diện tích của 2 hồ).

Ý nghĩa tên địa danh Cái Răng

Cái Răng có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Karan. Đọc phiên âm là Cà Ràng. Đây là một loại đồ dùng làm bếp khá thông dụng trước đây. Nó thường được bán rất nhiều ở chợ nổi trước đây. Hiện Cái Răng là một quận thuộc thành phố Cần Thơ. Chắc chắn bạn sẽ biết đến chợ nổi Cái Răng – một địa danh du lịch thuộc quận Cái Răng.

Ý nghĩa tên địa danh Cái Tắc

Cái Tắc có tên gốc là Cái Tắt. Cần Thơ trước đây nổi tiếng với nhiều kênh ngòi chằng chịt chảy khắp mọi nơi. Dòng sông trải dài thường có những lối tắt di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Sau này người ta sửa lại thành Cái Tắc. Đây là một địa danh thuộc tỉnh Hậu Giang (Sau khi tách tỉnh ra từ Cần Thơ).

Ý nghĩa tên địa danh Cà Mau

Cà Mau có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Tưk Khmau. Nó có nghĩa là vùng nước đen. Cà Mau trong thời kỳ khai hoang trước đây nổi tiếng là vùng rừng thiêng nước độc. Trước đây nó có màu đen đặc trưng dưới nước.

Ý nghĩa tên địa danh Càng Long

Càng Long không phải có nguồn gốc là tên vị vua Trung Quốc mà là từ tiếng Khmer. Từ đó là Kânlóng – Nghĩa là con ông bầu, một con vật có rất nhiều tại địa phương này trước đây. Càng Long hiện là 1 thị trấn thuộc tỉnh Trà Vinh.

Ý nghĩa tên Cần Thơ

Cần Thơ bắt nguồn từ tiếng Khmer là Kìn Tho. Nó có nghĩa là cá sặc rằng. Một loại cá khá thông dụng ở vùng đất này trước đây.

Tìm hiểu nét văn hóa thú vị qua: Ngôi chùa cổ nhất tại Cần Thơ.

Ý nghĩa tên Cao Lãnh

Cao Lãnh đọc chệch từ Câu Lãnh. Tên của một người làm chức câu đương và tên Lãnh ngày xưa ở địa phương này. Dân gian tương truyền lại câu chuyện, trước đây làng bị dịch bệnh. Vì đương chức câu đương nên ông Lãnh đứng ra lập đần cầu trời và ăn chay. Chẳng may khi ăn chay được 3 ngày bà Lãnh qua đời, ông cũng mất theo khi làm ma chay cho bà xong. Khi ấy dịch bệnh cũng dần lui mất. Dân làng thấy ông linh thiêng nên sửa tên làng là Câu Lãnh. Về sau đọc trại lại thành Cao Lãnh.

Ý nghĩa tên Cù Lao Dung

Cù Lao Dung có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Kaôh Tũng. Nghĩa là cù lao bồ nông. Trước đây khu vực này có nhiều loài chim bồ nông. Cù Lao Dung thuộc tỉnh Sóc Trăng nằm giữa dòng sông Hậu.

Ý nghĩa tên Đồng Tháp

Có nhiều cách lý giải về cái tên Đồng Tháp khác nhau. Mình xin nêu 1 lý do được xem là có lý nhất là trước đây khu vực này là đồng bằng khá bằng phẳng. Đây cũng là nơi có ngọn tháp thứ 10 tính từ Lục Chân Lạp. Vì thế người ta gọi đây là Đồng Tháp Mười. Sau này thường gọi là Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Giá Rai

Giá Rai là khu vực có cây giá mọc lưa thưa. Đây là một địa danh thuộc tỉnh Bạc Liêu.

Ý nghĩa tên Gò Quao

Tên gọi Gò Quao là vì gò đất này có nhiều cây quao. Hiện tại Gò Quao là một địa danh thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ý nghĩa tên Hà Tiên

Hà Tiên có nhiều cách lý giải khác nhau về xuất xứ tên. Một cách giải thích có lý nhất là tên gọi xưa vùng đất này là Tà Teng, sau này đọc thành Hà Tiên. Một cách giải thích khác là vì Mạc Cửu (Người khai phá nơi đây) nhìn thấy vùng đất này có tiên hạ xuống. Nơi đây lại là vùng đất có biển nên gọi là Hà Tiên. Hiện nay địa danh Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ý nghĩa tên Hồng Dân

Hồng Dân là tên của chiến sĩ chống Pháp – Trần Hồng Dân. Đây là một địa danh thuộc tỉnh Bạc Liêu hiện nay.

Ý nghĩa tên Kế Sách

Kế Sách xuất phát từ tiếng Khmer là Khsachâm. Nó có nghĩa laf cát sỏi. Vì trước đây vùng đất này có tính chất chứa nhiều cát sỏi. Hiện nay Kế Sách là một địa danh thuộc tỉnh Sóc Trăng.

Ý nghĩa tên Lai Vung

Lai Vung bắt nguồn từ tiếng Khmer là Srôk sla tampung. Nó có nghĩa là trái cau già rũ trên cây. Đây là một loại đặc sản mang tên cau tầm vung, được bay bán rất nhiều ở địa phương này trước đây. Hiện nay Lai Vung là địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay Lai Vung nổi tiếng với đặc sản là những vườn quýt Lai Vung.

Ý nghĩa tên Lấp Vò

Lấp Vò bắt nguồn từ tiếng Khmer là Srôk Tak Por. Có nghĩa là xứ trét thuyền. Đây là một công đoạn trong việc sửa chữa ghe thuyền trước đây. Một nghề truyền thống cũ khá thông dụng ở Lấp Vò ngày xưa. Hiện Lấp Vò là một địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Long An

Long An được dịch nghĩa đơn giản theo Hán Việt. Long là hưng thịnh, An là an ổn. Cái tên Long An để chỉ vùng đất yên ổn và hưng thịnh.

Ý nghĩa tên Mỹ Tho

Mỹ Tho có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Srôk Mỳ Xó. Nó có nghĩa là xứ nàng trắng. Nó chỉ việc ở vùng đất này có nhiều cô gái xinh đẹp da trắng. Mỹ Tho là địa danh thuộc tỉnh Tiền Giang hiện nay.

Ý nghĩa tên Mỹ Xuyên

Mỹ Xuyên hiểu đơn giản theo tiếng Hán Việt là một dòng sông xinh đẹp. Vùng đất Mỹ Xuyên có địa hình rất bằng phẳng và nhiều kênh rạch. Vì thế đa phần con sông ở đây đều yên ắng và hiền hòa. Mỹ Xuyên là một địa danh thuộc tỉnh Sóc Trăng.

Ý nghĩa tên Ô Môn

Ô là Vũng, Môn là cây môn. Bạn có thể hiểu đơn giản đây là vùng đất trồng nhiều cây môn nước. Hiện nay Ô Môn là một quận thuộc tỉnh Cần Thơ.

Ý nghĩa tên Phú Quốc

Phú Quốc được những người Tàu đặt tên khi đến đây. Nó đơn giản được hiểu là vùng đất giàu có. Ngay cả hiện nay, Phú Quốc vẫn là một hòn đảo ngọc xinh đẹp và nhiều tài nguyên quý giá.

Ý nghĩa tên Rạch Giá

Rạch bắt nguồn từ chữ prêk của người Khmer. Giá là tên một loại cây thông dụng ở vùng đất này trước đây. Rạch Giá hiểu đơn giản là con rạch có nhiều cây giá. Hiện Rạch Giá là một địa danh thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ý nghĩa tên Sa Đéc

Sa Đéc bắt nguồn từ tiếng Khmer là Phsar Dek. Đây còn có nghĩa là chợ sắt, một khu chợ bán đồ dùng sắt trước đây. Một giả thuyết khác cho rằng Phsar Dek là tên một vị thần cổ của người Khmer trước đây. Sa Đéc hiện là địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Sóc Trăng

Sóc Trăng có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Srôk Kléang. Nó có nghĩa là xứ có chứa vàng bạc của nhà vua. Tuy vậy cũng có cách giải thích khác là chữ Trăng xuất phát từ Tréang – có nghĩa là cây sậy. Đó là loại cây có khá nhiều tại vùng đất này trước đây.

Ý nghĩa tên Gò Công

Gò Công có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Kaôh Kông. Nó có nghĩa là cù lao Cồng Chiêng. Sau này người Kinh dịch từ Kaôh thành Gò và đọc là Gò Công. Hiện nay Gò Công là 1 địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Ý nghĩa tên Tịnh Biên

Tịnh Biên phiên âm theo tiếng Hán Việt là biên giới bình yên. Tịnh Biên nằm giáp với biên giới Campuchia. Hiện Tịnh Biên là một địa danh thuộc tỉnh An Giang.

Ý nghĩa tên Trà Cuôn

Trà Cuôn có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Prêk TraKun. Nó có nghĩa là rạch rau muống. Vì trước đây khu vực này có con rạch với rất nhiều loài rau muống. Hiện Trà Cuôn là một địa danh thuộc tỉnh Trà Vinh.

Ý nghĩa tên Trà Ôn

Nguồn gốc cái tên Trà Ôn từ tiếng Khmer là Traòn. Nghĩa từ đó là cây môn. Đơn giản vì vùng đất này trước đây có rất nhiều cây môn. Hiện Trà Ôn là địa danh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Ý nghĩa tên Trà Vinh

Trà Vinh là tên gọi có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Préah Trapeng. Nó có nghĩa là tượng Phật trong ao nhỏ. Vì trước đây khi mưa lớn, có 1 tượng Phật trôi sông dạt vào vùng đất này.

Ý nghĩa tên Vĩnh Long

Vĩnh Long là tên được đặt theo phiên âm Hán Việt. Vĩnh là vĩnh viễn, mãi mãi. Long là hưng thịnh. Vĩnh Long là sự hưng thịnh bền lâu mãi mãi. Nguồn gốc của cái tên Vĩnh Long được nhiều người xưa rằng vì Vĩnh Long trước đây thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Ghép hai địa danh đó lại sau khi tách đất lập tỉnh (sửa Viễn thành Vĩnh) mới nên có cái tên Vĩnh Long.

Tìm hiểu thêm về: Lễ hội giỗ tổ của nghề cải lương miền Tây.

Thông tin tham khảo từ các nguồn:

Wikipedia.

Một số sách như: Nghiên cứu Hà Tiên, sách của Sơn Nam.

Một số thông tin từ các cổng điện tử của các tỉnh.

Mọi thông tin đều được tham khảo và mang tính tham chiếu. Nếu có bất kỳ sai sót về nội dung vui lòng liên hệ để góp ý chỉnh lý.

Huynh Hieu Travel là một blogger du lịch, người viết content. Anh là người đi nhiều nơi, đặc biệt là miền Tây. Anh thích nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và trải nghiệm để review về những điểm du lịch.

Giải Thích Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Các Địa Danh Việt Nam

Thành phố Hải Phòng

Hải Phòng hay còn gọi là thành phố hoa phượng đỏ, là thành phố trực thuộc Trung ương gồm 1 thị xã, 4 quận, 8 huyện với 50 phường, 9 thị trấn, 157 xã. Tên Hải Phòng được Phạm Phú Thứ – một đại thần triều nhà Nguyễn đặt năm 1877. Ở đó có cơ quan Hải Phòng sứ, bảo vệ cửa biển.

Bà Rịa

Về địa danh Bà Rịa có 2 cách lý giải khác nhau:

Một bà tên Rịa có công với vùng này trong thế kỷ 19 nên tên bà được đặt cho địa phương.

Do phiên âm tên một nữ thần của người Chăm Po Riyak (thần trấn sóng).

Tuy nhiên thuyết thứ nhất thiếu tư liệu lịch sử nên không có cơ sở khoa học. Hơn nữa địa danh này đã có từ trước thế kỷ 19 (Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức khắc in khoảng năm 1820 đã nói tới).

Thuyết thứ hai có lý hơn vì có cơ sở ngữ âm và lịch sử. Từ địa danh Bà Rịa sinh ra hai địa danh Bà Biên và Bà Chợ.

Biên Hòa

Biên Hòa là thành phố công nghiệp và là tỉnh lỵ của tỉnh. Tên thành phố này có nguồn gốc Hán Việt.

Biên trong biên giới. Hòa trong hòa bình. Biên Hòa ở đây có nghĩa là hòa bình ở biên giới.

Tây Ninh

cũng là một địa danh Hán Việt như Biên Hòa kể trên. Là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam nổi tiếng với địa điểm du lịch núi Bà Đen. Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm Pênh, vương quốc Campuchia và là một trong những tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Và Tây Ninh có nghĩa là yên ổn về chính trị ở phía tây.

Trà Vinh

là thành phố nằm bên bờ sông Tiền, là tỉnh lỵ tỉnh Trà Vinh. Thành phố Trà Vinh nằm trên Quốc lộ 53 cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km. Trà Vinh xuất phát từ “prha trapenh” có nghĩa là ao, ao Phật hay ao linh thiêng. Vì cho rằng ngày xưa người ta đã đào được tượng Phật dưới ao ở vùng đất này. Đây là một địa danh gốc Khmer.

Kon Tum và Plei Ku ( Plây Ku)

Là hai trong năm tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên.

Trong đó Kon trong Kon Tum có nghĩa là làng, Tum có nghĩa là hồ ao. Vậy Kon Tum có nghĩa là làng có nhiều ao, hồ. Địa danh Kon Tum là địa danh có gốc dân tộc thiểu số mà cụ thể là dân tộc Ba Na.

Plei cũng mang nghĩa là làng, Ku có nghĩa là cái đuôi, phần cuối. Địa danh Plei Ku có nghĩa là làng cuối. Đây là địa danh gốc dân tộc Gia Rai

Quảng Nam

Là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam mà người ta vẫn hay gọi là ” Quảng Nôm”. Nổi tiếng với nhiều địa du lịch như phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn,…

Có thể thấy được miền Trung có khá nhiều địa danh mang yếu tố quảng. Bởi vì đây là một dải đất hẹp nên việc đặt tên các địa danh mang yếu tố quảng là với mong muốn sự rộng lớn, bao la vì từ quảng mang nghĩa như vậy.

Quảng Nam ở đây thì mang ý nghĩa mở rộng về phía nam.

Tam Kỳ

(Còn nữa….)

Là một thành phố trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, địa danh này có gốc Hán Việt. Có thể giải thích như sau: tam có nghĩa là ba, kỳ là nhánh, ba nhánh tức ngã ba. Vậy Tam Kỳ là ngã ba

Xem phần 1

Nguồn Gốc Một Số Địa Danh Nam Bộ

Thành phố Cần Thơ

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hoá đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hoá một cách tài tình.

Mỹ Tho: Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, “mỹ” và “tho”, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock,chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

Nhà thờ Chánh Tòa – Mỹ Tho

Sóc Trăng Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng.

Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn. Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).Đến thời ông Diệm, lại gọi là tỉnh Ba Xuyên,châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

Ý Nghĩa Và Nguồn Gốc Một Số Địa Danh Bắc, Trung, Nam

1.Địa danh ra đời và hoạt động trong một quá trình lâu dài. Nhiều địa danh thay đổi về hình thức, khiến chúng ta có thể ngộ nhận về ý nghĩa của chúng. Giải mã những địa danh này, chúng ta sẽ hiểu chính xác vấn đề.

Ao Bà Om, tỉnh Trà Vinh a.Địa danh ở Bắc Bộ:

thuộc thành phố Hải Phòng, diện tích 280km Cát Bà là đảo 2. Trên đảo có vườn quốc gia mới thành lập ngày 23-5-1983, rộng 15.200ha (trong đó có 9.000ha rừng, 5.400ha biển và hàng trăm ha rừng nguyên sinh). Cũng viết Các Bà trên các bản đồ cũ. Cát Bà còn là thị trấn của huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Trước năm 1977 là một huyện riêng.

Cát Bà có dạng gốc là Các Bà, vì trên đảo còn đền thờ Các Bà và trên các bản đồ hành chính (như bản đồ năm 1938) còn ghi Các Bà [6], giống như Các Ông, Các Lái bị nói chệch thành Cát Ông (Hải Phòng), Cát Lái (TP. HCM) [4].

Cắc Cớ là hang ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội. Cắc Cớ vì đường đi xuống hang cheo leo, khó khăn.

Huyện của tỉnh Hải Hưng tr ước đây , do sát nhập hai huyện Cẩm Giàng và Bình Giang vào năm 1977 mang tên Cẩm Bình. Sau khi Hải Hưng tách thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên vào năm 1996, Cẩm Bình cũng tách thành hai huyện như cũ. Cẩm Bình còn là phường của thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Cẩm Bình là chữ đầu hai huyện Cẩm Giàng và Bình Giang.

Sông Cầu phát nguyên từ huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, chảy qua các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, thành phố Hà Nội, dài 290km, diện tích lưu vực 6.030km 2, đổ vào sông Thái Bình. Còn có tên Nguyệt Đức, Như Nguyệt, Phú Lương, Thị Cầu.

Tên sông Cầu xuất hiện ở đầu thế kỷ 20, khi chính quyền Pháp cho xây dựng ba chiếc cầu lớn qua sông: cầu Đáp Cầu ở Thị Cầu (thành phố Bắc Ninh); cầu Đa Phúc ở huyện Sóc Sơn (thành phố Hà Nội); cầu Gia Bảy ở thành phố Thái Nguyên [12].

của quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, diện tích 0,18km Cầu Dền là phường 2, dân số 11.039 người (1999). Cũng gọi Cầu Giền, Cầu Rền.

Cầu Dền có hai cách lý giải: 1. Cầu bắc qua sông Kim Ngưu, hai bên sông trước đây có trồng nhiều rau dền nên cầu mang tên trên [1]. Tên cầu chuyển thành tên phường. 2. Cầu Dền có tên gốc ở Hoa Lư, Lý Thái Tổ mang ra đặt cho Hà Nội khi d ời đô [10]. Ý kiến thứ hai thuyết phục hơn.

Hang Chiều ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Du khách phải leo qua 1.200 bậc đá mới đến hang, cách khu dân cư 350m. Cửa hang rộng 10-15m, dài ngược lên đỉnh núi độ 30m. Hang dài khoảng 200m, chia làm hai tầng. Từ cửa xuống tầng hang thứ nhất dài 15m. Hang đầu tiên dài độ 50m, rộng 40m, vòm tầng cao 55m. Lòng hang tương đối bằng phẳng, thoáng mát, lộng lẫy và uy nghi. Du khách choáng ngợp trước rừng thạch nhũ trùng trùng điệp điệp, lung linh huyền ảo. Trong hang có nhiều khối đá hình ông Phật, con khủng long, con đại bàng, con dê,…Hang thứ hai có khối đá hình cô gái Thái như đang chờ ai. Du khách như đang sống trong cảnh thần tiên. Hang được công nhận là danh thắng cấp quốc gia năm 2011.

Chiều vì khi nắng chiều chiếu vào thì hang đẹp lộng lẫy.

b.Địa danh ở Trung Bộ:

Ác Giang là sông ở huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, có tiếng nước độc. Còn có tên sông Nộ, Ngàn Sâu (“nguồn sâu”). Ác Giang là “sông ác đức”, vì nước của nó độc hại.

chảy vào đầm Thuỷ Triều, gần thành phố Cam Ranh. Ba Ngòi vì sông có ba nhánh nhỏ là suối Ba Ngòi vừa là tên sông vừa là tên phườngcủa thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Sông Cạn, suối Đầu và suối Đục.

Bãi Rái Vái là xứ thuộc xã Thủy Biều, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bãi Rái Vái là nơi vua Minh Mạng trước đó thấy một con rái gật gù, sau được đất bồi thành bãi, giúp dân làng có đất canh tác [15].

Bãi tắm trên đảo Hòn Tre, vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa có tên Bãi Trủ. Bãi Trủ là bãi chuyên dùng lưới trủ (loại lưới bắt cá ven bờ) của cư dân địa phương. Từ tháng 12-2003, nơi đây đã mọc lên khu du lịch nghỉ mát 5 sao lớn nhất Việt Nam là VinPerl (hòn Ngọc Việt) [14].

(còn gọi là . Đàn cá ở suối cá này có hàng nghìn con lớn, nhỏ, mỗi con cá có thể nặng từ 2kg đến 8kg, có cá chúa nặng tới 30kg, gồm các loài: Cá dốc (tên khoa học: Cẩm Lương là s uối Cá thần úi Mó Ngọc) nằm bên chân n Trường Sinh, thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, h uyện Cẩm Thủy, t ỉnh Thanh Hóa. Xã Cẩm Lương nằm ở bờ bắc sông Mãc á chép, có tên trong Sách đỏ VN ); cá chài, cá mại. Hình thù các loài cá này rất lạ, màu sắc phong phú như: màu đỏ, xanh, hồng… Mỗi khi bơi, thân cá thần phát sáng nhiều màu, lấp lánh ánh bạc rất đẹp. Vào mùa nước cạn, lòng suối Ngọc chỉ sâu khoảng 20 – 40 cm, nước trong vắt, có thể đưa tay xuống nước vuốt ve những con cá thần. Đây là điều hấp dẫn nên đã thu hút hàng nghìn lượt du khách đến suối cá thần Cẩm Lương mỗi năm. Spinibarbichthys denticulatus, thuộc bộ

Bên cạnh suối cá thần, xã Cẩm Lương hiện đang còn giữ được nguyên vẹn hệ thống rừng nguyên sinh với các loài động, thực vật đặc trưng của vùng nhiệt đới, thuộc dãy núi đá vôi Pù Luông – Cúc Phương. Tuy mật độ cá dày đặc nhưng nước suối không bao giờ tanh. Người dân ở đây vẫn thường nấu ăn bằng nước của dòng suối này. Hiện nay, đã có đường cầu treo qua sông Mã để du khách có thể qua lại dễ dàng. Người ta tin rằng cá ở đây linh thiêng nên mọi người chỉ đến chiêm ngưỡng và cầu may, không ai đánh bắt. Đây là một địa điểm tham quan nổi tiếng của Thanh Hóa. Ngoài Cẩm Lương, còn có các suối cá thần Cẩm Liên (huyện Cẩm Thủy), Văn Nho (huyện Bá Thước).

Cẩm Lương vốn là tên xã của huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

Tô Hạp vừa là tên núi (cao 695m) vừa là tên sông bên trái, hợp với sông Đà Mai ở bên phải thành sông Cái, chảy qua huyện lỵ Tô Hạp vào vùng Ba Ngòi, tỉnh Khánh Hoà.

Tại đây có di chỉ khảo cổ học ở huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa. Năm 1992, đã phát hiện 2 công cụ đá là bàn dập hoa văn gốm cổ. Niên đại chưa được xác định.

Tô Hạp còn là thị trấn , huyện lỵ huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hoà. Tô Hạp là loại cây cao độ 30-40m, lá giẹp trắng, nhựa thơm [5]. Cây này không chỉ là đặc sản của tỉnh Khánh Hoà mà ở các tỉnh Điện Biên, Phú Yên, Quảng Ninh cũng có.

c.Địa danh ở Nam Bộ

Tên phiên âm là Ba Lai [3], Ba Rây. Ba Rài gốc Khmer Ba Rài là rạch ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, dài 22,2km. Baray hay Pơrai, nghĩa là “hồ nước nhân tạo” [16].

Cửa một nhánh của sông Hậu mang tên Ba Thắc (cũng viết Ba Sắc, Bassac). Ba Thắc là sông nhánh của sông Cửu Long, tên thông dụng là sông Hậu. Ba Thắc còn là vùng đất từ Châu Đốc đến Bạc Liêu, từ năm 1836 đặt làm phủ Ba Xuyên, gồm 3 huyện Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định, thời Pháp gọi là tỉnh Sóc Trăng. Người Pháp gọi là Transbassac.

Ba Thắc: gốc Khmer Bàsàk/ Bassac là tên một vị thần [16].

thuộc quận 6, TP. HCM, giáp các quận Tân Phú, Bình Tân. Bà Hom có lẽ do Bà Hom là vùng đất Bàu Hom (bàu ngâm hom tre) nói chệch vì Bàu Bèo, Bàu Hói, Bàu Môn nói chệch thành Bà Bèo, Bà Hói, Bà Môn. Năm 1986, chúng tôi còn thấy một cái bàu nơi đây.

Ao thuộc xã Nguyệt Hoá, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, mỗi cạnh dài độ 200m mang tên Bà Om. Cũng gọi ao Vuông.

Bà Om. Có 4 truyền thuyết: 1. Bà Om là người Khmer, đứng đầu đội nữ đào ao sâu hơn đội nam. 2. Bà Om là một trong bốn nữ tì canh gác cho hoàng tử tắm trong ao nên ao mang tên bà. 3. Ao mang tên chùa Prah Âng nên bị nói chệch thành Bà Om. 4. Bên ao có loại rau mà ơm (một thứ rau thơm) nên bị nói chệch thành Bà Om [9]. Thuyết thứ tư có lý nhất vì ở tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu có suối Mò Om [4]. Mò Om có lẽ là hai loại rau: Mò là loại dây leo, lá giống lá lốt [5]; om là “thứ rau thơm hay ở đất bùn” [3].

Bà Xếp là cầubăc qua kinh Nhiêu Lộc trên đường xe lửa Thống Nhất, ở ranh giới hai quận 3 và Phú Nhuận, TP. HCM, dài 40m, rộng 4,7m, hai hành lang dành cho người đi bộ, mỗi lề rộng 1,25m. Cầu xây lại xong năm 2000. Bà Xếp còn là cốngnhỏ ở phường 11, quận 3,gần cầu [4].

Bà Xếp có lẽ là vợ một sếp ga (chef de gare) Hoà Hưng xưa kia, có nhà ở nơi đây. Khu vực chung quanh cống này gọi là Cống Bà Xếp.

Địa điểm ở cách TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 5,6km là Bệ Vầy Heo. Cạnh đó có Vàm Trư (ngã ba sông/rạch có nhiều heo rừng). Bệ Vầy Heo: Bệ là những cù lao nhỏ; Vầy: sum họp; Heo: heo rừng [7]. Vậy, nghĩa của địa danh này là: “các cù lao nhỏ ở đó heo rừng tụ tập lại”.

Bến Vua là vùng đấtthuộc xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi, TP. HCM. Bến Vua: Theo sách Monographie de la province de Gia Dinh (1902), Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) ẩn náu ở đây 8 ngày khi bị quân Tây Sơn đánh đuổi [4].

3. Giảng giải nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh là công việc hàng đầy của địa danh học. Càng biết rõ cội nguồn của địa danh, ta càng yêu thích bộ môn này và yêu mến quê hương, đất nước mình. Bởi vậy, đây là một trong các bộ môn thú vị nhất của ngôn ngữ học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1-Bùi Thiết, Từ điển Hà Nội: Địa danh, HN, Nxb Văn hóa – Thông tin, 1993.

2.-Đinh Xuân Vịnh, Sổ tay địa danh Việt Nam, HN, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002.

3-Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị, SG, 1895-1896.

4-Lê Trung Hoa, Từ điển từ nguyên địa danh Việt Nam, HN, Nxb Văn hóa Thông tin, 2013.

5-Lê Văn Đức, Việt Nam từ điển, SG, Khai trí, 1970.

6-Ngô Đăng Lợi (cb), Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng, Nxb Hải Phòng, 1998.

7-Nguyễn Anh Động, Di tích-danh thắng và địa danh Kiên Giang, HN, Nxb Thanh Niên, 2011.

8-Nguyễn Dược, Trung Hải, Sổ tay địa danh Việt Nam, HN, Nxb Giáo dục, 2005.

9-Nguyễn Hữu Hiếu, Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ qua chuyện tích và giả thuyết, HN, Nxb KHXH, 2004.

10-Nguyễn Khôi, Một số địa danh ở Bắc Bộ, bản viết tay do tác giả gửi tặng.

11-Nguyễn Như Ý (cb), Nguyễn Thanh Chương, Bùi Thiết, Từ điển địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam, HN, Nxb KHXH, 2004.

12-Nguyễn Văn Hồng, Ngô Xuân Sửu (cb), Địa chí Yên Phong, HN, Nxb Thanh niên, 2002.

13-Nguyễn Viết Trung, Địa danh lịch sử, văn hóa ở huyện Vạn Ninh, trong Tài liệu Hội thảo khoa học “Địa danh lịch sử, văn hóa tiêu biểu tỉnh Khánh Hòa”- tháng 12-2013.

14-Nguyễn Viết Trung, Địa danh lịch sử, văn hóa ở thành phố Nha Trang, trong Tài liệu Hội thảo khoa học “Địa danh lịch sử, văn hóa tiêu biểu tỉnh Khánh Hòa”- tháng 12-2013.

15-Trần Thanh Tâm, Huỳnh Đình Kết, Địa danh thành phố Huế, HN, Nxb Văn hóa dân tộc, 2001.

16-Trương Vĩnh Ký, x. Lê Hương, Người Việt gốc Miên, tr. 253-264. Thái Văn Chải dịch các địa danh gốc Khmer trong sách này.

17-Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam, HN, Nxb Văn hoá, 1993.

Nguồn : Kiến thức ngày nay, số 889, ngày 20-4-2024, tr. 12-15

Nguồn Gốc Địa Danh Bến Tre

Nguyễn Văn Âu nhận xét về địa danh ở Bến Tre như sau: “Tuy là vùng đất mới, song địa danh ở đây không phải là đơn giản” . Điều này được thấy rõ hơn qua việc có nhiều ý kiến rất khác nhau khi giải thích về địa danh Bến Tre.

Trong “Địa chí Bến Tre” có ghi địa danh Bến Tre có cấu tạo: địa thế tự nhiên + tên loại thảo mộc. Với 2 cách hiểu:

Nơi có nhiều tre mọc như Sóc Tre, Bến Giá .

Nơi buôn bán tre nứa từ phía thượng nguồn xuôi về như Bến Tranh, Bến Súc. Và khẳng định Bến Tre là từ thuần Việt. Và ở thời Ngô Đình Diệm Bến Tre đổi thành Trúc Giang (sông tre). Thực ra từ thời Minh Mạng Bến Tre đã được Hán hóa là Trúc Giang.

Tương tự, Nguyễn Phương Thảo cũng cho rằng danh từ riêng Bến Tre cần phải đặt trong hệ thống các địa danh theo mẫu : bến + X ở Bến Tre như bến Rớ, bến Miễu, bến Chùa, bến Giá, bến Cát…xóm Bến Trại, rạch Bến Xe và cho rằng chúng được đặt theo một kiểu tư duy chung”.

Mở đầu quyển khảo cứu “Monographie de la province de Bến Tre” của Imp.L.Ménard năm 1903 có ghi :

“Bến Tre était autrefois occupé par les Cambdgiens qui l’appelèrent Sốc Tre (pays des bambous), à cause de nombreux giồng couverts de bambous dont le pays était parsemé. Plus tard, les Annamites fondèrent un marché qu’ils appelèrent BếnTre (débarcadère en bambous). Le rạch qui passe devant le marché et va se perdre dans le Hàm Luông, porte le même nom”.

Tạm dịch: “Bến Tre ngày xưa người Khơme chiếm trước và gọi là Sốc Tre …vì trong xứ trên các giồng có tre mọc đầy. Sau đó người An Nam lập chợ buôn bán và gọi chợ Bến Tre, tức bờ sông hay bến bằng tre. Con rạch chảy ngang chợ này trổ nước xuống cửa Hàm Luông cũng mang tên rạch Bến Tre y như vậy”.

Trái ngược với các ý kiến trên, tác giả Vương Hồng Sển cho rằng Bến Tre là do hiểu sai từ tiếng Khơme Srok kompong Trey hay Srok kompong Treay mà trey hay treay có nghĩa là cá (Ví dụ như là trey kinh thor: cá sặt lớn hay cá dù tho). Theo tác giả như vậy thì Sork kompong trey hay Sork kompong treay sẽ có nghĩa là Bến Cá và khi Hán hóa thì sẽ là Ngư Tân chứ không phải là Trúc Giang .

Cùng ý kiến với Vương Hồng Sển, tác giả Lã Xuân Thọ trong “Đồng Nai văn tập”, số 13, cũng đã cho rằng không thể có sự nhầm lẫn như vậy được. Như vậy theo quan niệm này thì Sork Kompong Trey sẽ là Xứ Cá, Bến Cá.

Còn nhận định của Nguyễn Duy Oanh về địa danh Bến Tre thì nội dung hầu như bao gồm tất cả các ý kiến được nêu ở trên. Có hai thuyết mà tác giả đưa ra:

Thứ nhất: Bến Tre trước kia là sốc của người Miên có tên là Sốc Tre (Srok Trey hay Sork Treay). Trey có nghĩa là cá như: Trey Prek -cá sông; Trey Sramot- cá biển; Trey Damrey- cá voi…Có lẽ xứ này trước kia có nhiều cá nên hiện giờ còn nhiều con rạch mang tên rạch Cá Lóc, rạch Cá Trê, rạch Ba Tri Cá…Điều đó còn minh chứng qua nhiều câu ca dao sau đây:

Sông Bến Tre nhiều hang cá ngátĐường Ba Vát gió mát tận xươngAnh có thương em thì nối sợi chỉ hườngChớ bán rao cho lắm, hãy chừa đường xuống lên.

HoặcBa phen quạ nói với diềuNgã ba Bến Rớ có nhiều cá tôm

HoặcChợ Ba Tri thiếu gì cá biểnAnh thương nàng anh nguyện về đây

Thứ hai: có thuyết cho rằng Sốc Tre là vùng có nhiều tre. Vùng này có nhiều giồng mà trên đó tre mọc um tùm. Tác giả cho rằng theo thuyết trên chính vì Sốc Tre có nhiều tre nên ghe thuyền ghé bến này chở tre, mà ra danh từ Bến Tre. Tác giả còn nói thêm rằng Bến Tre là do những chữ “bến thuế của sốc tre “thu ngắn lại.

Bùi Đức Tịnh thì cũng không chấp nhận ý kiến là ngày xưa ở bến sông có tre mọc nhiều hoặc có sự buôn bán tre phát triển ở vùng đất Bến Tre vì ngày nay không để lại dấu vết gì để chứng tỏ. Theo tác giả thì về phương diện ngôn ngữ “tre” là một hình thức Việt hóa của từ Khơme “trây” có nghĩa là cá, và tác giả còn nói thêm là thực tế chợ Bến Tre từ trước đến nay bán khá nhiều cá, vừa cá biển vừa cá đồng và gần chợ có cây cầu mang tên cầu Cá Lóc.

Theo cách giải thích của những người dân sống nơi đây thì Bến Tre là bến có nhiều tre mọc. Như vậy có hai luồng ý kiến khác nhau trong việc nhận định về nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Bến Tre, một bên cho rằng địa danh này được cấu thành theo địa thế tự nhiên + tên loài cây có nhiều ở đó. Kiểu này thì địa danh Bến Tre là từ thuần Việt.

Ý kiến thứ hai thì lại ngược lại, địa danh Bến Tre có nguồn gốc Khơme: Sork Kompong Trey/Treay (nghĩa là: xứ bến cá). Mỗi cách lí giải của các tác giả đều đưa ra những bằng chứng để thuyết phục, nhưng chung qui cũng còn rất mơ hồ, biết rằng trước khi lưu dân từ miền Trung vào đất Bến Tre lập nghiệp thì đã có người Khơme sinh sống trước ở đó: “Trước khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam, người Việt đã lập ở đó những tổ chức. Những nhóm người di cư đã xây dựng làng xóm, hay tới ở chung với người Cao Miên” [Địa chí Bến Tre, tr.284], nhưng chỉ dựa vào những địa danh còn lưu lại ở đây là xứ có nhiều cá, tôm để thuyết phục thì chưa đủ hợp lí vì hầu như ở các tỉnh miền tây Nam Bộ, xứ nào cũng nhiều tôm, cá, mặc dù tiếng Khơme Sork Kompong Trey có âm gần với tiếng Sốc Tre. Còn những ý kiến mà cho rằng ở vùng đất cù lao này xưa kia có nhiều tre mọc nên gọi là Bến Tre thì đã được Châu Đạt Quan (một xứ thần của nhà Nguyên bên Trung Quốc) trong chuyến đi sứ sang kinh đô Angkor của nước Chân Lạp vào năm 1296 bằng đường thủy qua ngõ sông Cửu Long, đã miêu tả vùng đất Nam Bộ trong đó có Bến Tre như sau: “Những cửa rộng của dòng sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chổ trú sum sê. Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu. Vào nửa trong cửa sông, người ta mới thấy những cánh đồng hoang không có một gốc cây nào. Xa nửa tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy. Hàng trăm, hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bầy. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm” [Địa chí Bến Tre, tr.24 -25].

Tuy nhiên việc xác định đúng, chính xác, thuyết phục địa danh Bến Tre thì không dễ dàng gì, vì cho đến nay các nhà nghiên cứu cũng còn đang bỏ ngỏ chưa đi đến kết luận cuối cùng. Cho nên tác giả Nguyễn Văn Âu trong quá trình tìm hiểu địa danh này, ở cuối bài đã nói: “Cho tới nay địa danh Bến Tre vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để vấn đề được sáng tỏ hơn vì đây là một vùng đất nông nghiệp trù phú với một truyền thống đấu tranh kiên cường trong lịch sử dân tộc. Còn Bùi Đức Tịnh thì: “Về địa danh Bến Tre, không nên chỉ hiểu theo lối đơn giản mà bỏ mất khả năng tìm một từ nguyên có thể thích hợp với điều kiện lịch sử và thực tế hơn” .

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Thích Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa 33 Địa Danh Ở Miền Tây Nam Bộ trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!