Xu Hướng 2/2024 # Phân Loại Và Danh Pháp Vi Sinh Vật # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Loại Và Danh Pháp Vi Sinh Vật được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1.   SỰ PHÂN CHIA SINH GIỚI

Năm 1753, Linnaeus lần đầu tiên xếp các sinh vật thành hai giới (kingdom): 1 giới thực vật (thực vật, vi khuẩn, nấm, tảo) và giới động vật (động vật nguyên sinh và động vật bậc cao).

Năm 1865, Haeckel phân thành ba giới: thực vật, động vật và giới nguyên sinh vật (protista). Trong đó, các vi khuẩn, động vật nguyên sinh, tảo đơn bào, nấm mốc, nấm men nằm trong giói protista.

Năm 1969, Whittaker tách giới nguyên sinh yật của Haeckel thành ba giới riêng: monera (tất cả các vi khuẩn), fungi (các loại nấm), protista (động vật nguyên sinh và tảo đơn bào). Cùng với hai giới thực vật và động vật, sinh vật theo Whittaker được xếp thành năm giới.

Năm 1977, Woese sau khi phân tích rARN lại xếp các sinh vật thành ba giới: eukaryota (sinh vật nhân thật gồm tất cả động vật và thực vật), eubacteria (vi khuẩn thật gồm đa số các vi khuẩn trong tự nhiên) và archeaeobacteria (vi khuẩn cổ là một nhóm vi khuẩn đặc biệt, khác với các vi khuẩn thật ở chỗ vách không có peptidoglycan, ARN-polymerase có cấu trúc tương tự nấm men và không mẫn cảm với rifampicin, thứ tự các nucleotit của rRNA rất khác với các vi khuẩn thông thường).

Một số tác giả khác khi dựa vào cấu trúc của nhân (có màng bao bọc hay không) còn phân chia sinh vật thành hai nhóm lớn hoặc hai siêu giới (superkingdom): prokaryota (nhân nguyên thủy) và eukaryota (nhân thật). Cũng theo đó, người ta chấp nhận có hai kiểu tế bào: tế bào nhân nguyên thủy (prokaryot) và tế bào nhân thật (eukaryot). Vi khuẩn nằm trong kiểu tế bào nhân nguyên thủy.

Ngày nay, việc phân loại sinh giới sao cho hợp lý hơn vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu. Tuy vậy, những điểm chung sau đã được thống nhất:

·         Đơn vị cơ sở về cấu trúc là tế bào, là đơn vị sống nhỏ nhất.

·         Chất di truyền là ADN. Các cao phân tử sinh học (acid nucleic, protein, polysaccharid, lipid) đều có thành phần tương tự.

·         Sử dụng ATP làm “đồng tiền năng lượng” phổ biến.

·         Quá trình truyền thông tin di truyền (sao chép, phiên mã, dịch mã) cung như các con đường trao đổi chất cơ bản diễn ra tương tự.

·         Thuật ngữ “vi sinh vật” dùng để chỉ các cơ thể có kích thước rất nhỏ, đa số là đơn bào và kém phân hóa. Ngoài các tế bào nhân nguyên thủy thuộc prokaryot (các vi khuẩn), vi sinh vật còn bao gồm cả tảo, nấm, động vật nguyên sinh (thuộc eukaryot).

2.   PHÂN LOẠI VÀ DANH PHÁP VI KHUẨN

Đơn vị phân loại cơ bản ở vi khuẩn là loài (species). Các vi khuẩn trong cùng loài có cùng nguồn gốc, genotype, các tính chất sinh học và di truyền được các tính chất đó cho thế hệ sau. Các loài rất gần nhau được xếp thành chi (genus) (một số tài liệu dịch là giống), nhiều chi (hoặc giống) gần nhau hợp thành một họ (family), các họ gần nhau thành một bộ (order). Dưới loài là chủng (strain), chủng là tập hợp các tế bào con cháu của một khuẩn lạc đơn độc từ một quần thể thuần khiết.

Mã quốc tế về danh pháp của vi khuẩn đã được quy định bởi ủy ban Quốc tế về Phân loại Vi khuẩn (International Committee on Systematic Bacteriology: ICSB). Viết và đọc tên vi khuẩn được quy ước thống nhất bằng tiếng La Tinh. Gọi tên một vi khuẩn xác định gồm tên chi và tên loài. Chữ đầu viết tên chi và viết hoa, chữ sau viết tên loài và viết thường. Cả tên chi và tên loài đều viết nghiêng hoặc gạch dưới. Ví dụ: tên của vi khuẩn gây bệnh giang mai là Treponema pallidum hoặc Treponema pallidum. Tên chi có thể được viết tắt nếu xuất hiện nhiều lần trong cùng một bài viết. Khi cần viết tắt thì viết hoa chữ cái đầu của tên chi, sau đó đặt dấu chấm, tên loài vẫn viết thường và cách ra một ký tự, ví dụ: T. pallidum. Khi định danh một vi khuẩn chỉ đến được mức “chi” thì sau tên chi viết tắt là “sp ” thay cho tên loài, nếu muốn chỉ nhiều loài trong chi đó thì viết “spp ”, loài phụ được ghi “ssp ” hoặc “subsp ” (subspecies).

Danh pháp là tên chính thức duy nhất được dùng trong các tài liệu khoa học mang tính quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tế lâm sàng, tên thường gọi của một số loài vi khuẩn vẫn thường được đề cập đến vì các tên này gắn liền với vật chủ mà nó gây bệnh hoặc mang tính phổ thông dễ gọi, các tên này không được in nghiêng. Ví dụ:

Danh pháp             Tên thường gọi

1.   tuberculosis Trực khuẩn lao người

2.   aureus Tụ cầu vàng

Một số quy ước khác:

Họ vi khuẩn có tận cùng là chữ aceae.

Bộ vi khuẩn có tận cùng là chữ ales.

Tên chủng đặt theo tên tác giả tìm ra hoặc theo địa danh hoặc theo số hiệu kiểm tra. Tên chủng viết hoa.

Ví dụ: Bộ: Spirochaetales Họ: Spirochaetaceae Chi: Treponema Loài: T. pallidum Chủng: Nicohn

Các căn cứ phân loại:

·         Theo chủng loại phát sinh: các loài xuất hiện qua sự tiến hóa phân ly từ một tổ tiên chung được xếp vào một chi. Khác với sinh vật bậc cao còn giữ lại các hóa thạch, việc phân loại vi khuẩn theo chủng loại phát sinh là khó thực hiện.

·         Theo các đặc điểm giống nhau: đây là cách phân loại nhân tạo, các cá thể giống nhau được xếp thành từng nhóm theo một khóa xác định (không nhất thiết có quan hệ về chủng loại phát sinh). Cách phân loại này hiện nay đang được dùng phổ biến, người có công nhất trong lĩnh vực này là Bergey.

·         Gần đây, cùng với tiến bộ trong lĩnh vực sinh học phân tử, người ta đã dựa vào việc xác định thứ tự nucleotit của rARN-16S để xếp loại vi khuẩn. Việc phân tích rARN đã khẳng định tính khoa học trong khóa phân loại của Bergey, đồng thời cũng phát hiện một số chỗ chưa hợp lý. Trên cơ sở đó, Hội đồng Danh pháp Quốc tế dần dần bổ sung một số điểm để tiến tới một khóa phân loại hoàn chỉnh hơn.

3.   MỘT SỐ NHÓM VI KHUẨN ĐẶC BIỆT

3.1. Rickettsia

Rickettsia là một nhóm vi khuẩn đa hình thái, ký sinh trên các loại côn trùng chân đốt (chấy, rận), đa số không gây bệnh, loài gây bệnh cho người chỉ chiếm một phần nhỏ. Trước đây, Rickettsia được coi là trung gian giữa vi khuẩn và virus ị vì chúng có đặc điểm ký sinh bắt buộc trong tế bào sống, kích thước tương tự virus cỡ lớn. Ngày nay, chúng được xếp vào nhóm vi khuẩn vì trong cấu tạo tế bào có đủ các thành phần như vi khuẩn (vách, nguyên sinh chất, nhân có cả ADN và ARN, chịu tác dụng của một số kháng sinh…). Rickettsia gây sốt phát ban và viêm thành mạch dị ứng, đặc biệt ở các nội tạng, tình trạng nặng.

3.2. Chlamydia

Chlamydia là một loại vi khuẩn cũng ký sinh bắt buộc trong tế bào sống, kích thước rất nhỏ (0,3 – 0,5 µm). c. trachomatis gây bệnh đau mắt hột và bệnh u lympho hạt ở bẹn. c. psittaci gây viêm phổi, sốt ở vẹt có thể lây sang người.

-Mycoplasma

Mycoplasma được coi là vi khuẩn nhỏ nhất còn có khả năng sinh sản độc lập, không có vách tế bào. Trên môi trường thạch – huyết thanh tạo thành khuẩn lạc nhỏ dạng trứng oplet, các dạng tương tự được ký hiệu là PPLO. Khuẩn lạc gồm các tế bào và các hạt có hình dạng khác nhau. Chúng sinh sản qua phân đôi hoặc “nảy chồi”. Chúng thường ký sinh vô hại cho vật chủ, sống trên thanh mạc của đường hô hấp và đường sinh dục (chim và động vật có vú). Trên người, chúng gây bệnh do bám rất chắc vào các tế bào biểu mô. Các sản phẩm trao đổi chất của chúng (NH4, H202) có tác dụng độc lên màng tế bào.

– Xạ khuẩn

Tên gọi của nhóm này bắt nguồn từ một loài sống kỵ khí, được mô tả đầu tiên là Actinomyces bovis, gây bệnh “nấm tia” ở bò, các đám tinh thể lớn tạo thành trong mô và ở xương quai hàm có cấu tạo như những tia phóng xạ. Xạ khuẩn sinh trưởng bằng khuẩn ty (hypha), đa số sống trong đất, Gram dương, thích nghi cả kỵ khí và hiếu khí. Chúng tổng hợp ra nhiều loại kháng sinh như streptomycin, chloramphenicol, tetracyclin…

– Xoắn khuẩn

Cấu tạo đơn bào, xoắn ốc, rất mềm dẻo, qua được dụng cụ lọc vi khuẩn. Tế bào gồm 3 phần chính:

– Trụ nguyên sinh chất.

– Sợi trục: là bó sợi quấn quanh tế bào giữa lớp murein và màng ngoài.

– Màng bao ngoài. – Vi khuẩn cổ

Tên gọi “vi khuẩn cổ” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “archeae” có nghĩa là “cổ xưa”, ngụ ý sinh vật này có lẽ đã tổn tại qua thời kỳ khắc nghiệt nhất về khí hậu cách đây khoảng 4 tỷ năm. Những vi khuẩn này có thể sống ở những điều kiện vô cùng khắc nghiệt của thiên nhiên như ở suối nước nóng gần 100°c, khu vực dung nham núi lửa hoặc dưới đáy biển sâu (nơi có áp suất rất cao), chúng có thể “ăn” sắt và lưu huỳnh, thải ra khí thiên nhiên… Ví dụ như việc phát hiện ra vi khuẩn Methanococcus jannaschii ở đáy biển sâu hoặc vi khuẩn Pyrolobus fumarii ở khu vực dung nham núi lửa có nhiệt độ 113°c. Khi giải mã bộ gen của những vi khuẩn này, người ta nhận thấy 2/3 số gen của chúng chưa từng được biết đến trong thế giới sinh vật và không biết xếp chúng vào giới eukaryota hay prơkaryota (thế giới 

của các vi sinh vật đã biết). Và cũng từ đáy, nhánh thứ ba của sinh giới, nhánh Archeaebacteria ra đời. Khi phân tích các gen của Archeaebacteria, người ta nhận thấy một số gen giống của vi khuẩn, số khác lại tương tự của eukaryota. Xét về cách thức chuyển giao thông tin di truyền cho thế hệ sau, các vi khuẩn cổ này tương tự như eukaryota nhưng nó lại biến chất liệu từ môi trường xung quanh thành khối tế bào chất mới giống vi khuẩn. Thực ra, xét về mặt tiến hóa thì các vi khuẩn cổ này được xếp hạng cao hơn các vi khuẩn thật (prokaryota), vì vậy trong cấu trúc “cây sự sống” của Woese thì nhánh Archeaebacteria nằm giữa hai nhánh prokaryota và eukaryota.

Các vi khuẩn cổ lại được phân thành 3 nhóm chính: sinh metan, ưa mặn và ưa nhiệt – acid tùy theo đặc tính chuyển hóa của chúng.

Trong cấu trúc, vách tế bào của vi khuẩn cổ chứa pseudomurein, protein hay polysaccharid; đo đó không chịu tác dụng của kháng sinh nhóm P-lactamin. Thứ tự nucleotid của rARN-16S rất khác với các vi khuẩn thông thường. ARN-polymerase có cấu trúc tương tự của nấm men và không mẫn cảm với riíampicin.

4.   PHÂN LOẠI VIRUS

4.1. Cơ sở phân loại

Phân loại virus dựa trên các cơ sở sau đây:

·         Dựa vào kích thước, hình thể: virus nhỏ, virus lớn, virus hình cầu, virus hình khối đa diện..

·         Dựa vào thành phẩn cấu tạo: virus có bao ngoài, virus trần.

·         Dựa vào tính chất sinh lý: virus chịu nhiệt, virus không chịu nhiệt, virus nhạy cảm với pH acid, virus nhạy cảm với pH kiềm, virus nhạy cảm với ether.

·         Dựa vào đặc điểm genome: virus ADN, virus ARN, kích thước phàn tử của genome (đơn vị kilobase), hàm lượng G + C.

·         Dựa vào tính chất của protein: hoạt tính chức năng của protein, đoạn của acid amin.

·         Cách phân loại theo đường lây và khả năng gây bệnh được dùng nhiều trong y học.

Các virus lây bệnh theo đường hô hấp (cúm, sởi, Rubella, quai bị, thủy đậu), các virus ỉây bệnh theo đường tiêu hóa (virus Rota, viêm gan A, Entero, bại liệt), các virus lây bệnh theo đường máu (HIV, virus viêm gan B, virus viêm gan C), các virus lây bệnh qua côn trùng chân đốt (viêm não Nhật Bản B, Dengue), các virus lây bệnh theo đường tình dục (HIV, virus viêm gan B, virus viêm gan c, Herpes).

Dựa vào khả năng gây bệnh: virus gây bệnh đường ruột, virus gây bệnh ở hệ thống thần kinh, virus gây bệnh da niêm mạc, virus gây sốt xuất huyết, virus gây viêm gan.

·         Một hệ thống phân loại được David Baltimore đưa ra. Theo hệ thống phân loại Baltimore, virus được phân loại theo cách tổng hợp ARNm và được chia thành 7 nhóm:

+ dsDNA virus (Adeno, Herpes, Pox): virus ADN 2 sợi.

+ ssDNA virus (Parvo): virus ADN 1 sợi (+).

+ dsRNA virus (Reo): virus ARN 2 sợi.

+ (+)ssRNA virus (Picoma, Toga, Flavi): virus ARN 1 sợi (+).

+ (-)ssRNA virus (Orthomyxo, Rhabdo): virus ARN 1 sợi (-) + ssRNA-RT virus (Retro): virus ARN 1 sợi (+) nhân lên cần đến ADN.

+ dsDNA-RT virus (Hepadna).

Phân loại và đặt tên virus là công việc khó khăn, phức tạp và do một ủy ban quốc tế đảm nhiệm, được viết tắt là ICTV (International Committee on Taxonomy of viruses). Trên thực tế, phần nhiều phân loại virus dựa vào đặc điểm của acid nucleic (ADN hay ARN) và dựa vào khả năng gây bệnh

4.2. Đơn vị phân loại

Theo ICTV, thứ tự phân loại từ trên xuống gồm:

·         Bộ (order): bao gồm nhiều họ virus có chung đặc tính nhưng khác nhau với các bộ khác. Đuôi của bộ có chữ viales, ví dụ: Mononegavỉrales.

·         Họ (family): bao gồm nhiều giống virus có chung đặc tính. Đuôi của họ có

chữ viridae, ví dụ: Picornaviridae.

·         Chi (genus): gồm các virus có chung đạc tính trong một họ. Đuôi của chi có chữ virus, ví dụ: Enterovirus,

·         Loài (species): là một cion virus (một dòng virus từ một virus ban đầu). Khi gọi tên của một virus cụ thể đã được xác định phải viết tên loài.

Theo phân loại này, virus gồm có 3 bộ, 56 họ, 9 dưới họ, 233 chi và có khoảng 1.550 loài virus đã được xác định.

Nguồn: Giáo trình vi sinh y học – Học viện Quân y

Quy Y Và Tên Pháp Danh

Khai tâm chơn chánh xua màn tối Mở trí thông hành xóa mây mưa Y áo sửa sang lo trọn vẹn Mõ Chuông chỉnh đốn để xin thưa Mười phương phát nguyện cùng Tam Bảo

Lạy Phật quy y cũng đã vừa! – ( Nguyễn Tâm)

Theo đạo Phật tức là chúng ta hành theo những điều chỉ dạy của đức Phật về sự từ bi vô lượng, thương độ hữu chúng sinh. Những người hay đi chùa thì đều biết về Tam quy ngũ giới. Đó là nơi chúng ta có thể trở về tìm lại suối nguồn chân hạnh phúc mà ta đã vô tình đánh mất từ thửa nào, một nơi nương tựa tâm linh vững chắc, quay về nương tựa Tam Bảo đó cũng chính là lúc chúng ta có một cuộc sống có ý nghĩa và an lành hơn.

Giáo lý nhà Phật, cũng như đức Phật có quy định là có bốn hàng đệ tử Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni là những người xuất gia, còn Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di là những cư sĩ tại gia là cận sự nam và cận sự nữ luôn phụng sự Tam bảo. Theo một lẽ thông thường thì để có pháp danh tức nói nôm na là tên ở chùa thì cần phải Quy y Tam Bảo. Cái tên đó do sư thầy bổn sư đặt và lúc đó chúng ta mới là một phật tử chân chính, đệ tử của đức Phật. Đệ tử tại gia thì sẽ làm lễ Quy y trở thành một đệ tử của đức Phật và thọ năm giới.

Đối với một số chùa thì ngày Rằm, lễ lớn hay chùa đó tổ chức Quy y thì đệ tử sẽ phải có mặt. Trong lễ Quy y đối với một số nơi vùng sâu, xa xôi thì có thể tại tư gia của một gia đình phật tử, ở đó thiết lập một bàn thờ Phật và một bàn cho sư thầy bổn sư, sau đó thầy sẽ làm lễ Quy y, truyền năm giới cơ bản cho phật tử tại gia rồi thầy sẽ đặt tên (pháp danh). Tên pháp danh thì sẽ tùy theo thầy bổn sư đặt có thể là theo dòng kệ các phái, cũng có thể đặt theo tên chùa hoặc đặt nữ là Diệu nam là Tự hay Thiện… cái đó sẽ tùy mỗi cách đặt tên của thầy bổn sư.

Chúng ta sống ở đời nhiều nên sẽ có những tập khí của cuộc sống ngoài đời, nên theo cá nhân con xin pháp danh qua mạng sẽ giống như chúng ta xin một món đồ, món ăn… Vậy tại sao ngay bây giờ mình không tách riêng biệt giữa đời và đạo, con nghĩ như vậy mình sẽ có cơ hội nhận diện bản thân mình rõ hơn.

Có nhiều người xin các thầy đặt cho một pháp danh qua mạng thì con chỉ có vài điều chia sẻ rằng đó chỉ là tên gọi mà thôi và khi đã xin pháp danh tức là chúng ta đang hạnh theo lời đức Phật, thiên hướng một phần ý niệm về Phật giáo. Vậy tại sao chúng ta không thu xếp một ngày nào đó tới một ngôi chùa và bạch thầy trụ trì xin làm lễ Quy y Tam Bảo và trong lễ Quy y đó sẽ có tên pháp danh. Con thấy hành động đó rất dễ thương. Điều đó không mấy khó khăn mà còn rất ý nghĩa.

Hãy xem trong một bát canh Oán sâu thành biển, hận thành non cao Muốn xem nguồn gốc binh đao Lắng nghe lò thịt tiếng gào đêm thâu

Đường đời có muôn vạn nẻo, luôn bị đắm chìm trong biển khổ, chạy theo những lầm lũi vô minh, luôn sống trong nghiệp lực, vô định không biết đâu là bến bờ của hạnh phúc và sự giải thoát. Có bao giờ chúng ta tự hỏi mình “Mình đang tồn tại đó nhưng thật sự đã sống trọn vẹn trong từ sống đó chưa?” Quay về nương tựa hải đảo tự thân, chánh niệm là Phật soi sáng xa gần…Tam Bảo là thuyền từ cứu độ đưa người vượt qua sông mê, là ánh tuệ đăng soi sáng màn đêm u tối, đem đến an vui hạnh phúc cho tất cả mọi người.

Diệu Minh

Định Nghĩa, Phân Loại Và Cân Bằng Phản Ứng Oxi Hóa Khử

1. Chất khử (chất bị oxi hoá)

2. Chất oxi hoá (chất bị khử)

* Lưu ý:Kim loại có số oxi hoá thấp nhất là 0, phi kim thuộc nhóm xA thì số oxi hoá thấp nhất là (x – 8).

3. Sự khử và sự oxi hoá

– Định nghĩa: Phản ứng oxi hóa – khử là phản ứng hoá học trong đó có sự chuyển e giữa các chất phản ứng.

– Dấu hiệu nhận biết: Phản ứng có sự thay đổi số oxi hóa của một số nguyên tố.

+ Trong đơn chất, số oxi hóa nguyên tố bằng 0:.

+ Tổng đại số số oxi hoá của các nguyên tử trong phân tử (trung hoà điện) bằng 0.

+ Tổng đại số số oxi hoá của các nguyên tử trong một ion phức tạp bằng điện tích của ion đó.

+ Khi tham gia hợp chất, số oxi hoá của một số nguyên tố có trị số không đổi: H là +1, O là -2 …

* Lưu ý: Dấu của số oxi hoá đặt trước con số, còn dấu của điện tích ion đặt sau con số (số oxi hóa Fe+3 ; Ion sắt (III) ghi: Fe 3+)

2. Cân bằng phản ứng oxi hóa – khử theo phương pháp thăng bằng electron

– Nguyên tắc: dựa vào sự bảo toàn electron nghĩa là tổng số electron của chất khử cho phải bằng tổng số electron chất oxi hóa nhận.

Tổng số electron cho = tổng số electron nhận.

(tổng số oxi hóa giảm = tổng số oxi hóa tăng).

Nước (cân bằng H 2 O để cân bằng hiđro).

– Khi viết các quá trình oxi hoá và quá trình khử của từng nguyên tố, cần theo đúng chỉ số qui định của nguyên tố đó.

Cân bằng các phản ứng oxi hóa – khử sau đây theo phương pháp thăng bằng electron. Hãy cho biết vai trò chất phản ứng là chất khử, chất oxi hóa hay chất môi trường ? Giải thích.

Cân bằng các phản ứng oxi hóa – khử sau đây theo phương pháp thăng bằng electron. Hãy chỉ ra nguyên tố là chất khử, chất oxi hóa

III. Ý NGHĨA CỦA PHẢN ỨNG OXI HÓA – KHỬ

– Phản ứng oxi hóa – khử là một trong những quá trình quan trọng nhất của thiên nhiên. Sự hô hấp, quá trình thực vật hấp thụ khí cacbonic giải phóng oxi, sự trao đổi chất và hàng loạt quá trình sinh học khác đều có cơ sở là các phản ứng oxi hóa – khử.

– Sự đốt cháy nhiên liệu trong các động cơ, các quá trình điện phân, các phản ứng xảy ra trong pin và trong ăcquy đều bao gồm sự oxi hóa và sự khử. Hàng loạt quá trình sản xuất như luyện kim, chế tạo hóa chất, chất dẻo, dược phẩm, phân bón hóa học,…đều không thực hiện được nếu thiếu các phản ứng oxi hóa – khử

Trung tâm luyện thi, gia sư – dạy kèm tại nhà NTIC Đà Nẵng

Phân Biệt Các Dòng Xe Và Phân Khúc Các Loại Xe Ô Tô Phổ Biến Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, mỗi hãng xe đều có nhiều dòng xe ô tô tham gia thị trường trong từng phân khúc khác nhau, phân loại các dòng xe ô tô là một vấn đề phức tạp và ít nhiều mang tính chủ quan. Một số xe nằm lưng chừng giữa hai kiểu, nhóm xe, hoặc thậm chí không thể xếp vào một dòng hay phân khúc cụ thể nào.

Ngoài ra, không phải mọi kiểu xe đều xuất hiện tại tất cả các quốc gia. Tên gọi nhiều khi cũng khác nhau tại những khu vực khác nhau và vào thời kỳ phát triển khác nhau. Dựa theo các đặc trưng về cỡ thân xe, khung xe, mục đích sử dụng hay dung tích xi-lanh,.. người ta phân loại ô tô ra thành phân hạng các phân khúc A, B, C, D,.. hay các dòng xe Sedan, Hatchback, SUV, Crossover, Pick-up,..

Thực chất, xe hơi có thể được xếp loại theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Những kiểu phân hạng (phân khúc) được sử dụng phổ biến nhất. Cách phân chia nào cũng có những đan xen hoặc không phổ quát hết. Mỗi thế hệ xe mới, các hãng lại nới thêm kích thước để đáp ứng người tiêu dùng. Vì thế những dữ kiện về phân biệt các dòng xe và phân khúc các loại xe ô tô phổ biến tại Việt Nam mang tính chung nhất và dĩ nhiên vẫn có những ngoại lệ.

Đối với những ai không quá quen thuộc thế giới ô tô và các thuật ngữ trong ngành có thể sẽ khiến họ hoang mang. Đối với những người không chuyên hay lần đầu mua ô tô, sẽ không ít người bỡ ngỡ với tên gọi các dòng xe như Sedan, SUV, Crossover, MPV… Hãy học cách phân biệt vì kiến thức xe cơ bản này sẽ giúp bạn chọn mua được xe ưng ý nhất.

Các loại xe ô tô tại Việt Nam

Khi đề cập tới các loại xe ô tô, có thể bạn đang nghĩ về công dụng (xe con, xe tải), dòng xe (sedan, SUV…), hay hạng xe (phân khúc A, B, C…), loại hộp số (số sàn, số tự động). Nghĩa là tùy theo cách phân loại mà hiểu ta đang nói tới loại xe nào.

Giờ khi ra đường tôi thấy rất nhiều loại ô tô: từ xe con, xe tải, xe khách, xe container, xe cẩu, xe rác,.. Riêng ô tô con (xe dành để chở người) cũng có bao nhiêu là loại, với hình dáng, kích thước, kết cấu, công dụng khác nhau. Đúng là nhiều lúc hơi rối. Thế nên chúng ta thử tìm hiểu sâu một chút về cách phân loại xe hơi xem sao.

Vậy có những loại ô tô nào?

Thực ra cũng khó có câu trả lời mang tính thấu đáo, toàn diện. Việc gọi tên một loại xe là để phục vụ một mục đích nào đó, hoặc cũng có khi chỉ là thói quen của người dùng, lâu ngày thành quen… Thêm một thực tế là trên thế giới cũng có nhiều cách phân chia. Các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Nhật, Úc… lại cũng có cách phân loại riêng của họ.

Thế nên việc phân loại xe ô tô thường thấy cũng chỉ có ý nghĩa tương đối với bối cảnh ở Việt Nam.

1. Theo công dụng

Xe con (xe du lịch): xe 5 chỗ, xe 7 chỗ, xe 9 chỗ, xe 16 chỗ.

Xe khách: loại 25 chỗ, 50 chỗ, xe giường nằm…

Xe bán tải: loại chở 2-4 chỗ, cùng hàng hóa

Xe tải (chở hàng): xe tải nhỏ, xe tải lớn

Xe chuyên dùng: xe chở rác, xe cẩu, xe trộn bê tông,..

2. Theo kích thước

Đây là cách phân loại dựa vào kích cỡ xe (cũng được sử dụng ở Mỹ)

Hạng xe nhỏ (Mini)

Hạng xe nhỏ gọn (Compact)

Hạng xe trung (Midsize)

Hạng xe lớn (Large)

3. Theo loại nhiên liệu sử dụng

Xe sử dụng động cơ xăng

Xe sử dụng động cơ diesel

Xe sử dụng động cơ điện

Xe sử dụng xăng kết hợp với điện (Hybrid)

4. Theo số chỗ ngồi (ô tô con) 5. Các loại xe ô tô con – theo kết cấu thân xe

Theo cách này, bạn có thể thấy người ta chia thành các dòng xe như sau:

Hatchback

SUV – xe thể thao đa dụng

Crossover – xe lai đa dụng

MPV – dòng xe đa dụng

Coupe – dòng xe thể thao

Convertible – dòng xe mui trần

Pickup – dòng xe bán tải

Limousine – dòng xe sang

6. Phân hạng các phân khúc xe ô tô

Cách này dựa theo tiêu chuẩn của châu Âu, phân loại xe căn cứ vào chiều dài và kích thước xe. Ở Việt Nam, là nói về phân hạng các phân khúc xe hạng B, hạng C,.. khi giới thiệu hay đánh giá một mẫu xe nào đó, tuy nhiên sự khác nhau giữa các phân khúc cũng không được rạch ròi và cũng không có tài liệu định nghĩa chính xác về mỗi phân khúc. Về tổng quan chúng ta có cách phân hạng các phân khúc xe ô tô bằng ký hiệu chữ cái như sau:

Phân khúc hạng A (Mini Class Vehicles – Daewoo Matiz, Kia Morning,..)

Phân khúc hạng B (Small Class Vehicles – Ford Fiesta, Hyundai i20, Toyota Yaris,..)

Phân khúc hạng C (Sub-Medium Class Vehicles – Ford Focus, Honda Civic, Kia Forte, Chevrolet Cruze,..)

Phân khúc hạng D (Top-Middle Class Vehicles – Ford Mondeo, Toyota Camry, Honda Accord,..)

Phân khúc hạng E (Upper Class Vehicles – Mercedes E-Class, BMW Serie 5, Audi A6,..)

Phân khúc hạng F (Luxury Class Vehicles – Mercedes S-Class, BMW Serie 7, Audi A8,..)

Phân khúc hạng M (Multi Purpose Cars – MPC / MPV – Toyota Innova, Mitsubishi Grandis,..)

Phân khúc hạng J (Crossover Utility Vehicle / Sport Utility Vehicle – Ford Escape, Toyota Land Cruiser,..)

Phân khúc hạng S (Super Luxury Vehicle)

Những dòng xe ô tô mà bạn thường gặp.

Số liệu phổ biến trên internet các loại xe ô tô trong từng phân khúc cũng đã có rất nhiều dòng và phân khúc, và theo cách phân loại phổ biến hiện nay, các dòng xe ô tô (sedan, SUV, coupe, hatchback,..) được phân chia dựa trên thiết kế nội ngoại thất và kết cấu khung gầm. Mặc dù ngày nay có nhiều mẫu xe cải tiến với vóc dáng lai tạp, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều dòng xe thiết kế truyền thống. Để các bạn dễ dàng phân biệt hơn, Anycar sẽ giới thiệu các dòng xe ô tô thông dụng thường bắt gặp trên đường phố tại Việt Nam như sedan, hatback, SUV, bán tải, CUV,…

Dòng xe Sedan

Đây là dòng xe phổ biến nhất thế giới ngày nay. Sedan là dòng xe có kết cấu 3 khoang tách biệt hoàn toàn, đó là khoang động cơ, khoang người ngồi và khoang hành lý. Loại này thường có gầm thấp, 4 cửa, 4 hoặc 5 chỗ ngồi.

Đây là dòng xe được sử dụng cho mục đích chính là đi lại và không đặc biệt phù hợp với việc vận chuyển hàng hóa do không gian hạn chế. Bên cạnh đó, nhờ lợi thế có cabin riêng biệt nên xe thường có khả năng cách âm tốt hơn, tạo cảm giác thoải mái hơn các loại xe khác.

Các dòng xe phổ biến trên thị trường thuộc phân khúc sedan gồm có Toyota Vios, Honda City, Nissan Sunny, Suzuki Ciaz, Toyota Camry, Honda Accord, Mazda 6, Nissan Teana, Mercedes-Benz E-class sedan, Mercedes-Benz C-class sedan…

Dòng xe HatchBack

Hatchback là dòng xe thường cỡ nhỏ hoặc trung, dùng cho cá nhân hay gia đình có thêm nhu cầu chở nhiều hành lý với thiết kế phần đuôi xe không kéo dài thành cốp như sedan mà cắt thẳng ở hàng ghế sau, tạo thành một cửa mới, có khả năng gập xuống tạo không gian lớn xếp đồ.

Một số mẫu hatchback cực kỳ phổ biến trong nước có thể kể đến như Kia Morning, Hyundai Grand I10, Chevrolet Spark, Ford Fiesta, Toyota Yaris, Mercedes A-class… đa số đều có thiết kế nhỏ gọn, phù hợp với nhu cầu sử dụng của phái nữ, đồng thời giúp xe linh hoạt hơn trong điều kiện giao thông giờ cao điểm.

Ở thị trường châu Âu, hatchback thường có thêm dòng wagon hay station-wagon, là biến thể từ một chiếc sedan kéo dài đuôi kiểu hatchback để chở hàng hóa như Maruti Suzuki, Chevrolet Vega Kammback,.

Dòng xe SUV – xe thể thao đa dụng

SUV là chữ viết tắt của cụm từ Sport Utility Vehicle, nghĩa là xe thể thao đa dụng. SUV truyền thống gầm cao, có kết cấu khung gầm tương tự như xe tải (body on frame), thân xe vuông vức, khoang hành khách thông với khoang hành lý.

Thông thường người ta rất dễ nhầm lẫn giữa SUV và Crossover do thân xe có nhiều điểm chung như khoảng sáng gầm xe cao, bánh xe lớn, thiết kế ngoại thất mạnh mẽ, nam tính. Tuy nhiên, SUV có khả năng chạy đường dài, off-road tốt hơn nhờ được xây dựng trên khung gầm chắc chắn ( tương tự như xe tải hạng nhẹ ) với 4 bánh lái dẫn động cùng thiết kế đơn giản, khỏe khoắn. Chính vì thế, các đường nét thiết kế ngoại thất của dòng xe này thường vuông vức, nam tính và mạnh mẽ.

Các dòng SUV truyền thống trên thị trường Việt Nam gồm có Toyota Land Cruiser, Toyota Fortuner, Ford Everest, Mitsubishi Pajero Sport, Lexus GX 460, Lexus LX 570,…

Dòng xe Crossover (CUV)

Crossover (tên đầy đủ Crossover Utility Vehicle – CUV) là đứa con lai giữa 1 chiếc SUV đúng nghĩa và xe đô thị (thường là các mẫu Sedan). Một chiếc Crossover được thừa hưởng gầm cao như SUV nhưng thiết kế rất phức tạp, màu mè hơn. Trên thực tế hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, cùng một hãng xe có thể tìm thấy cả những mẫu SUV và Crossover, do đó các hãng thường điều chỉnh khiến hai dòng xe này về gần nhau, đây là giải pháp linh động cho những người sống thành thị nhưng thích phong cách SUV do đó cách gọi crossover là SUV vẫn được chấp nhận.

Chúng ta có thể tìm thấy những mẫu SUV và crossover như Lexus LX570 là SUV, trong khi RX350 là một chiếc crossover. Hay như mẫu xe Captiva Chevrolet lại cũng là CUV vẻ ngoài chúng rất khó phân biệt. Do nhu cầu sử dụng của người dùng rất đa dạng, do đó các thiết kế của nhà sản xuất thường được điều chỉnh khiến hai dòng xe này “tiệm cận” nhau hơn.

Các dòng xe crossover phổ biến tại Việt Nam gồm có Honda CR-V, Honda HR-V, Hyundai Tucson, Mazda CX-5, Mitsubishi Outlander,…

Dòng xe MPV / Minivan – xe đa dụng

Minivan hay MPV (Multi-Purpose Vehicle) xe đa dụng là mẫu xe thường sử dụng cho gia đình, có khả năng linh động chuyển đổi giữa chở người và chở hàng hóa. MPV thường có gầm cao hơn sedan nhưng thấp hơn crossover hay SUV. Chiếc MPV bán chạy nhất thị trường Việt là Toyota Innova, thường được mua nhiều bởi các tổ chức, cơ quan để chuyên chở nhân viên hoặc doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách. Và gần đây là chiếc Mitsubishi Xpander hiện đang là xe bán chạy nhất tại Việt Nam.

Đây là dòng xe được thiết kế chuyên chở khách hoặc dành cho những gia đình có nhu cầu chở người và hàng hóa cao. Đặc điểm nổi bật của dòng xe này là phần đầu khá ngắn; phần thân thuôn dài, to ra và cao hơn giúp tận dụng khí động học khi di chuyển; gầm xe cao hơn Sedan và Hatchback nhưng thấp hơn SUV hoặc Crossover. Xe được thiết kế nhằm tạo ra sự an toàn và thoải mái cho hành khách, động cơ tiết kiệm nhiên liệu và hàng ghế có thể gập lên xuống thuận lợi cho việc chở hàng hóa.

Các dòng xe MPV/Minivan phổ dụng ở Việt Nam gồm có Kia Rondo, Kia Carens, Mitsubishi Grandis, Mitsubishi Xpander…. Toyota Innova là trường hợp đặc biệt, vì mang thân hình của xe MPV nhưng khung gầm lại có nguồn gốc từ xe tải.

Dòng xe Coupe – xe thể thao

Coupe được định nghĩa là một chiếc xe có hai cửa, 2 ghế ngồi ( hoặc cộng thêm 2 ghế phụ phía sau ), mui kín có phần mái kéo dài xuống tận đuôi, đuôi xe ngắn. Xe được thiết kế với động cơ công suất lớn, không có trụ B. Nhắc tới coupe là nhắc tới xe thể thao, kiểu dáng hầm hố.

Gần đây nhất là khái niệm gây tranh cãi ” coupe 4 cửa “, mở đầu bằng chiếc CLS của Mercedes giới thiệu năm 2003.

Nhìn tổng thể coupe 4 cửa không khác gì một chiếc sedan, do đó nhiều người không chấp nhận định nghĩa này của hãng xe Đức. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở chỗ mui xe kéo dài xuống tận đuôi giống như chiếc coupe truyền thống chứ không phân biệt rõ cốp xe như trên sedan. Cho đến nay, khái niệm coupe 4 cửa vẫn chưa thực sự được chấp nhận rộng rãi, các phương tiện truyền thông báo chí vẫn sử dụng ngôn từ sedan thay cho coupe 4 cửa. Một số mẫu xe dạng này như Porsche Panamera, Audi A5 Sportback, A7 Sportback… 7. Dòng xe Convertible (Cabriolet)

Các dòng xe coupe phổ dụng gồm có Audi TT, Toyota 86, Hyundai Coupe, Kia Forte coupe… Ngày nay, nhiều chiếc coupe lai với sedan, có thiết kế 4 cửa và 4 chỗ ngồi như Audi A5 Sportback, Audi A7 Sportback, BMW 6 series Gran Coupe… Nhiều dòng xe coupe thể thao có thiết kế mui gập (convertible).

Dòng xe Convertible / Cabriolet – xe mui trần

Convertible là từ chỉ chung những mẫu coupe có khả năng mở mui thành “mui trần” như ở Việt Nam vẫn đúng với tên gọi “siêu xe”. Loại xe này vẫn có thể đóng kín bằng mui mềm từ vải hoặc mui cứng có thể xếp gọn khi mở nắp cốp phía sau. Tại châu Âu hay sử dụng thuật ngữ Cabriolet, thực tế định nghĩa cũng tương tự convertible. Đây là phiên bản coupe được thiết kế dành riêng cho những khách hàng yêu thích sự lãng mạn, phóng khoáng bên cạnh đam mê tốc độ.

Xe mui trần có 2 loại: xe mui cứng và mui mềm.

Mui cứng thường được thiết kế cho các dòng siêu xe hiện đại, tạo cảm giác cứng cáp, mạnh mẽ trong vận hành, độ an toàn, cách âm và chống trộm tốt nhưng thường nặng nề và chiếm chỗ khi mở mui, chi phí sửa chữa cao.

Xe mui mềm thường dành cho các dòng xe thể thao du lịch hoặc lai sedan, không gian rộng, trọng lượng nhẹ, tốc độ đóng mở nhanh hơn cùng giá thành “mềm” hơn nhưng độ an toàn cũng như chống trộm kém hơn.

Dòng xe Pickup – xe bán tải

Dòng xe bán tải hay pick-up không được xếp vào “car” ở thị trường Mỹ. Tức ám chỉ những dòng xe không nghiêng về sử dụng chở hành khách như sedan, hatchback hay crossover.

Pick-up được biết đến như một dòng kết hợp giữa xe tải cỡ nhỏ và xe gia đình. Kiểu dáng như một chiếc xe đa dụng (MPV), khoang ghế ngồi có 5 chỗ (tính cả ghế lái); có thêm một thùng chở hàng phía sau, tách biệt hẳn với khoang ghế hành khách, có thể chở được hàng hóa với kích thước quá khổ mà những chiếc xe đa dụng khác không thể đảm nhiệm. Khung gầm tương tự như xe tải, thiết kế phù hợp với nhiều địa hình. Vận chuyển hàng hóa trọng lượng vừa phải (từ 500 – 700kg). Có thể gắn thêm mui phụ.

Ở Việt Nam, phân khúc xe bán tải ngày càng thịnh hành nhờ ưu điểm đa dụng, kiểu dáng thanh lịch như một chiếc sedan lại chở được nhiều đồ cùng mức thuế phí rẻ hơn. Các mẫu xe bán tải nổi bật và thịnh hàng ở nước ta phải kể đến như Ford Ranger, Mazda BT-50, Toyota Hilux…

Dòng xe Limousine

Nhắc đến Limousine, chúng ta sẽ nghĩ ngay đến một chiếc xe dài với nhiều cửa sổ. Thực ra, không có một tiêu chuẩn thực sự nào để coi một chiếc xe là limousine cả. Người ta thường coi limousine là một loại xe hơi cao cấp, tách biệt giữa ghế ngồi và ghế lái, thường được thiết kế thân dài với khoảng cách lớn giữa các bánh xe. Và tất nhiên, xe limousine có nội thất sang trọng, không gian đủ rộng và siêu đẹp.

“Limousine” là một từ đến từ một thị trấn của Pháp mang tên Limousin. Ban đầu limousine không phải là tên một loại xe, mà là một thứ quần áo. Dòng họ Shepherd tại Limousin tạo ra một loại áo mưa có mũ và gọi chúng là limousine. Sau này, những người làm xe ngựa tại Paris bắt đầu gọi các xe ngựa có không gian kín với cái tên limousine, và các hành khách giàu có hay sử dụng loại xe ngựa này.

Phân hạng các phân khúc xe ô tô tại Việt Nam

Đây là vấn đề khá hóc búa, bởi những thuật ngữ như xe hạng nhỏ, hạng trung, hạng lớn, hạng nhẹ, hạng phổ thông hoặc hạng A, B, C, D, E, F, S, M, J, S,… muốn hiểu hết các khái niệm phân hạng, phân khúc các dòng xe ô tô không hề đơn giản.

Ở thị trường Mỹ, phân hạng ô tô dựa vào 2 yếu tố chính là kích thước khung xe và động cơ. Còn ở Nhật thì phân theo pháp luật, tạp chí chuyên ngành và các nhà chế tạo ô tô. Còn ở thị trường Việt Nam thì giá cả là một yếu tố phần nhiều quyết định vào phân hạng phân khúc của mẫu xe đó.

Phân khúc xe hạng A (Mini Class Vehicles)

Phân khúc A hay còn gọi là xe mini, xe gia đình cỡ nhỏ hay xe nội thị. Đây là loại xe có thân xe nhỏ, khoảng cách đầu và đầu gối không nhiều, chúng có kích thước nhỏ và nhẹ. Những chiếc xe này thường sử dụng động cơ với dung tích dưới 1.2L. Do đó, khả năng thích ứng với điều kiện khó khăn của chúng thường rất thấp, không phù hợp cho những chuyến đi dài, thường được sử dụng để chạy ở thành phố.

Khách hàng chủ yếu ở Việt Nam là những người mới mua xe lần đầu, đặc biệt là phụ nữ. Ưu điểm của phân khúc A là khả năng thích nghi trên phố. Với chiều dài dưới 3.400 mm, bạn sẽ thấy “dễ thở” như thế nào khi quay đầu trong ngõ hẹp.

Những cái tên tiêu biểu là Chevrolet Spark, Kia Morning, Hyundai i10,..

Phân khúc hạng B (Small Class Vehicles)

Đây chính là những chiếc xe gia đình cỡ nhỏ thường có kích thước dao động vào khoảng 3.700 mm đến 4000 mm, về mặt kỹ thuật thì chúng mạnh hơn phân khúc loại A do chúng trang bị động cơ từ 1.4L đến 1.6L và nặng hơn so với phân khúc loại A. Xe thuộc phân khúc này có 3, 4 hoặc 5 cửa và thiết kế với 4 ghế và đăng ký chở 5 người.

Phụ nữ cùng là khách hàng quen thuộc trong phân khúc này. Họ đã từng sở hữu xe, hoặc mua lần đầu. Những chiếc ô tô phân khúc B này được chia làm 2 phân khúc nhỏ:

– Sedan hạng B với những cái tên tiêu biểu: Toyota Vios, Honda City, Mazda 2 sedan, Ford Fiesta sedan, Hyundai Accent, Nissan Sunny, Mitsubishi Attrage,..

– Hatchback hạng B: Toyota Yaris, Suzuki Swift, Ford Fiesta hatchback, Mazda 2 hatchback, Mitsubishi Mirage,..

Phân khúc hạng C (Sub-Medium Class Vehicles)

Đây là một trong những phân khúc được sản xuất và bán nhiều nhất. Phân khúc loại C là những chiếc xe bình dân hạng trung, chiều dài khoảng 4.250 mm với kiểu hatchback và 4.500 mm với sedan, xe compact đủ chỗ cho 5 người lớn và thường trang bị động cơ từ 1.4L đến 2.2L, đôi khi lên tới 2.5L.

Tại thị trường Việt Nam, đây cũng là phân khúc “sôi động” nhất và chia ra phân khúc nhỏ:

s

– Sedan phân khúc hạng C: Toyota Altis, Honda Civic, Hyundai Elantra, Chevrolet Cruze, Mazda 3 sedan, Kia Cerato, Ford Focus,..

– Hatchback phân khúc hạng C: Kia Cerato hatchback (Kia Ceed), Mazda 3 hatchback,..

– SUV phân khúc hạng C: Honda CR-V, Kia Sportage, Hyundai Tucson, Mazda CX-5, Chevrolet Captiva, Mitsubishi Outlander Sport, Suzuki Grand Vitara.

Phân khúc hạng D (Top-Middle Class Vehicles)

Đủ chỗ cho 5 người lớn và một khoang chứa đồ rộng, động cơ mạnh hơn xe compact và và phiên cao cấp nhất thường là loại 6 xi-lanh. Kích thước xe tùy theo khu vực: ở Châu Âu hiếm khi dài hơn 4.700 mm, trong khi ở Bắc Mỹ, Trung Đông và Australia lại thường dài hơn 4.800 mm.

– Sedan khúc hạng D: Toyota Camry, Honda Accord, Mazda 6, Kia Optima, Hyundai Sonata, Nissan Teana.

– SUV khúc hạng D: Toyota Fortuner, Mitsubishi Pajero Sport, Kia Sorento, Hyundai Santa Fe, Isuzu mu-X, Ford Everest, Nissan Terra, Chevrolet Trailblazer.

Phân khúc hạng E (Upper Class Vehicles)

Có thể nói đây là phân khúc mở đầu cho những người ”tập chơi” xe sang. Giữa hạng E và hạng D, khái niệm về chiều dài tổng thể không còn được sử dụng. Trên thị trường sẽ chỉ so các dòng xe hạng sang với nhau. Tại phân khúc này, các dòng sedan hạng E thường được ưa chuộng bởi đa số sử dụng động cơ tăng áp dung tích 2.0 đi cùng kích thước không quá to lớn đã góp phần làm nên cảm giác lái tuyệt vời và khả năng linh hoạt cho những mẫu xe này.

Ở châu Âu và một số thị trường, phân hạng E dành cho những mẫu xe được đưa lên hàng sang trọng, bắt đầu từ Audi A4, Mercedes C-class, BMW serie 3 hay Lexus IS. Giữa hạng E và hạng D. Ít ai so sánh Toyota Camry với Mercedes C-class bởi một điều chúng “không cùng đẳng cấp”, dù kích thước có thể ở cùng một hạng..

Phân khúc xe hạng sang cỡ nhỏ với những mẫu xe Audi A4, Mercedes C-class, BMW 3-Series…

Phân khúc hạng F (Luxury Class Vehicles)

Xe phân khúc F, còn được gọi là xe phân khúc sedan hạng sang cao cấp, nổi bật với các tính năng công nghệ và tiện nghi, cũng như dữ liệu hiệu suất và tính năng vật lý của chúng, các dòng xe sedan hạng sang cao cấp dài hơn, động cơ với 6, 8 hoặc 12 xi-lanh và trang bị tốt hơn xe sang hạng trung. Chúng là những mẫu sản xuất trên dây chuyền hàng loạt cao cấp nhất.

Cao hơn hạng F là những mẫu xe “ngoại hạng” hay còn gọi là “siêu sang” như các sản phẩm của Rolls-Royce, Maybach và một vài loại của Bentley. Sản lượng của dòng siêu sang thấp do đối tượng mà chúng nhắm tới là những triệu phú, tỷ phú dollar và có mức giá rất đắt. Các công đoạn lắp ráp thường làm bằng tay và có những chế độ đặt hàng trực tiếp từ khách hàng tới nhà máy.

Tất cả những công nghệ mới nhất, trang bị tốt nhất và chất lượng phục vụ tốt nhất đều được Mercedes, Audi, BMW, Lexus ưu tiên cho phân khúc này và chia làm 3 phân khúc nhỏ:

– Hạng sang cỡ trung: Rộng rãi, mạnh mẽ, thiết kế và trang bị sang trọng như Mercedes-Benz E-Class, BMW 5-Series, Audi A6,..

– Hạng sang cao cấp: Thường được trang bị động cơ 8 hoặc 12 xi lanh và quy tụ những tính năng công nghệ, tiện nghi tốt nhất của hãng xe, đại diện là Mercedes-Benz S-Class, Audi A8, BMW 7-Series, Lexus LS,..

– Xe siêu sang: Số lượng sản xuất ít, mức giá rất đắt và cá nhân hóa cho từng khách hàng, các công đoạn thường làm bằng tay và sử dụng những vật liệu quý hiếm như Maybach, Rolls-Royce, Bentley,..

Phân khúc hạng M (Multi Purpose Cars) – MPV hay Minivan

Đây là những chiếc xe đa dụng có thể làm thương mại hoặc là xe gia đình tùy vào mục đích của người sử dụng. Những chiếc xe phân khúc M, đạt doanh số cao trên thế giới, lần đầu tiên được sản xuất bởi thương hiệu Ford.

– MPV là viết tắt của Multi-Purpose Vehicle, dòng xe đa năng cho gia đình. Những chiếc MPV có thể chở tới 7 người, nội thất rộng rãi, hàng ghế thứ 3 có thể gập lại cho không gian chứa đồ. Gầm xe thấp, kiểu dáng thuôn dài mềm mại hơn xe SUV như Toyota Innova, Kia Grand Carnival, Mitsubishi Zinger, Chevrolet Orlando; (5+2 chỗ) – Suzuki Ertiga, Kia Rondo, Mitsubishi Xpander, Toyota Avanza,..

– Minivan là dòng xe chuyên chở khách (hoặc có thể dùng cho gia đình lớn), với khoang nội thất rộng rãi, nối liền khoang hành lý. Nhìn bề ngoài khá giống những chiếc MPV nhưng kích cỡ minivan thường lớn hơn. Cửa bên hông có thể là dạng cửa lùa để hành khách dễ lên xuống, đi lại trong không gian hẹp. Đại diện là Toyota Sienna, Honda Odyssey, Kia Grand Sedona, Mercedes-Benz V-Class.

Phân khúc hạng J (Crossover Utility Vehicle / Sport Utility Vehicle)

Có thể vượt qua những địa hình khó với hệ dẫn động 2 cầu, xe CUV/SUV thường có khoảng sáng gầm cao với thiết kế thân xe có thế đứng thẳng và kiểu hình hộp vuông vức. Xe CUV có kết cấu thân xe liền khối (unibody), thân và khung là một. Trong khi trên xe SUV, thân và khung được sản xuất rời sau đó lắp vào nhau (body on frame).

Xe CUV có kết cấu thân xe liền khối (unibody), thân và khung là một. Với đặc tính gầm cao, tầm nhìn thoáng luôn làm phân khúc này nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Đó là lý do khiến phân khúc này lấy lòng được người dùng bởi sự tiện dụng mà nó đem lại.

Mẫu đại diện phân khúc CUV hạng J là Ford Ecosport, Chevrolet Trax, Honda CR-V, Mazda CX-5, Nissan X-Trail,..

Mẫu đại diện phân khúc SUV hạng J chia phân khúc này ra làm 2 nhóm

– SUV phổ thông: Toyota Fortuner, Ford Everest, Mitsubishi Pajero Sport, Hyundai Santa Fe, Nissan Terra, Isuzu mu-X, Chevrolet Trailblazer, Kia Sorento,..

– SUV hạng sang: Lexus LX 570, Nissan Qashqai, Range Rover, Infiniti QX80,..

Phân khúc hạng S (Super Luxury Vehicle)

Cũng là khối động cơ lên đến 12 xilanh nhưng mẫu xe ở phân khúc này lại không đem đến sự thoải mái cho người dùng mà thay vào đó là cảm giác thể thao, phấn khích tột độ sau từng pha tốc độ.

Pháp Danh Sau Khi Tự Quy Y

Sau khi có Pháp danh từ đó phải luôn nhớ:

PHÁP DANH?

Soạn giả Pram Nguyen Ngày 26/3/2024 — o0o —

Chúng sanh trong tứ sanh lục đạo, sanh ra đều có hai vị Thần Hộ mạng là Đồng Sanh hay Câu Sanh Thần và Đồng Danh Thần.

Khi chúng ta sanh ra, hoặc Cha hoặc Mẹ, hoặc cả Cha và Mẹ hay Ông Bà đặt tên, chớ bản thân mình không hề tự đặt cho mình cái tên!

Lớn lên đi học, bạn bè lại đặt tên! Rồi đi làm bạn cùng sở đặt tên hay Chủ nhân đặt tên!

Khi quy y Tam Bảo trong Chùa hay vào Nhà Thờ rửa tội cũng lại có tên!

Ta hỏi các cháu (đêm qua inbox) hay như bạn Angel Nguyễn:

“Chú ơi cho con hỏi, nếu mình tự qui y theo cách này thì Pháp Danh của mình sẽ lấy dựa theo gì ạ, và con nhỏ muốn qui y tại gia nhưng ý thức chưa có thì mẹ có thể làm thế nào để qui y cho con mình ạ? Con xin nhờ chú bày dạy ạ ”

Pram Nguyen ta trả lời:

– Angel Nguyễn “Pháp danh chỉ là cái giả sao phải bận lòng?”

Có đứa nói mình quy y HT Thanh Từ, còn đứa khác nói HT Trí Tịnh, Trí Quảng, v.v… Sư Ông là Lão Pháp Sư Tịnh Không, lại có đứa nói Sư Ông là Thiền Sư Nhất hạnh, hay Thầy Chân Tính Chùa Hoằng Pháp, Thầy Giác Nhàn, …quả là những danh sư tiếng tăm đồn khắp, quả là những bậc Thầy thiên hạ; nhưng hình như chẳng vị nào “xuất cao đồ” cả!

Nầy các bạn (lớn tuổi), nầy các cháu! Ta hỏi nhỏ, có khi nào quí bạn hay các cháu đến gặp HT Thanh Từ, hay Sư Ông Tịnh Không, Nhất Hạnh, v.v… và chư vị nhận ra, “thằng nầy/Con nhỏ nầy quy y ta lúc gặp tại … ta ban pháp danh là …” hay không?

– Dĩ nhiên, chỉ có những người có máu mặt, giàu sang, quyền thế thì nhớ! Kỳ dư, “phải nhắc ta mới nhớ”. Vậy thì quy y làm gì?

– Chư vị dạy các quí bạn và các cháu những gì?

Nghe ta khuyên, sau khi Tự Quy Y, thấy hảo mộng, thì xem mình thích vị Phật hay Bồ Tát nào ghi Pháp danh như vầy.

Thật ra, chúng ta đã có Bổn Sư là đức Thích Ca Mưu Ni Phật rồi, cần gì phải trông cậy vào người thế tục? Nói là như vậy, nhưng đó là Bồ-Tát, không phải mình, nên cần có vị Y-chỉ Sư, tức là vị Thầy mình có thể y theo Chánh-Pháp mà học (xem KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, Thích Trí Tịnh dịch, Phẩm Tứ Y và Phẩm Chánh Tà), vậy tìm đâu ra? Nếu chưa thì lấy chữ THÍCH làm gốc rồi lấy tên cúng cơm của mình làm ngọn; nhưng đó là đặt quyền của hàng xuất gia, nếu lấy THÍCH thì rất phiền toái!

Vậy thì A-Di-Đà, hay Vô-Lượng Quang, hoặc Vô Lượng Thọ, v.v… A + tên mình, ví dụ người Hoa thường gọi là A-Phón, A chảy….hay chữ Vô + tên mình, v.v… Nếu lấy Bồ Tát Văn/Mạn Thù Sư Lợi chữ đầu thì Văn (họ nầy phổ thông ở miền Trung) + tên mình…

Sau khi lựa ra 5-7 tên thì xếp lại để trên bàn thờ trong một cái chén, xào lên ba lần. Cúng Phật, tụng Kinh liên tiếp 7 ngày, rồi ân cần dâng chén lên trán, đưa tay vào bốc 1 tấm giấy. Mở ra tên nào là Pháp danh của mình. Pháp thức nầy dựa trong KINH VIÊN-GIÁC, không phải ta nói bừa.

Sau khi có Pháp danh từ đó phải luôn nhớ:

1) Phật Thích Ca Mưu Ni là đức Bổn Sư, hay tu theo Mật Tông Tây Tạng thì ngài là Đạo-Sư Gốc. 2) Vị Phật hay Bồ-Tát mà mình bốc trúng là Y-Chỉ Sư. 3) Từ Phụ là Phật Thích-Ca Mưu-Ni nếu phát thệ tái sanh Ta-Bà học Chánh-Pháp Kim Cang Thừa hay Câu Sanh Khởi Thừa. 4) Nếu tu Thiền hay tu theo Mật Tông muốn có thắng duyên thì cầu sanh Diệu Hỷ thế giới, tôn Phật A-Súc-Bệ hay Bất Động Như-lai làm Từ Phụ (Xem KINH DUY-MA-CẬT SỞ-THUYẾT, KINH ĐẠI BẢO-TÍCH, Pháp Hội A-Súc Bệ Phật) 5) Nếu trước giờ cầu sanh Cực-Lạc thì Từ Phụ là Phật A-Di-Đà.

Từ đó về sau phải tìm Kinh-văn nói về vị Phật hay Bồ Tát nầy mà đọc, không đọc các Kinh văn khác, thì không mang tội trộm Pháp!

Trước khi ngũ phải nhớ về Tứ Vô Lượng tâm (Từ-Bi-Hỷ-Xả), phát nguyện, rồi nhớ nghĩ đến vị Phật hay Bồ Tát nào mình nhận làm Thầy, tưởng ngài ngồi trên gối của mình nằm hằng đêm, đầu mình đặt trên bắp đùi của ngài mà quán niệm, đi vào giấc ngũ thì sẽ KHÔNG BAO GIỜ bị ác mộng, bóng đè, thỉnh thoảng lại được hảo mộng, thấy Phật, Bồ Tát, bông sen, thiên cung, v.v…

Pháp nầy do ta chỉ, nếu hành đúng là phước cho Nhân Thiên hai cõi; nếu làm sai thì cũng chẳng tội vạ gì.

Nếu độc thân thì có thể lên ngũ dưới bàn thờ, thức dậy đã thấy Phật, còn gì vui bằng.

Nếu là nữ thì những ngày có kinh, cũng vẫn phải tu hành, còn sợ bất tiện thì ngũ phòng riêng.

Nếu hoàn cảnh không cho phép, mà quán tâm còn loạn, chưa thấy hình ảnh Phật khi ngũ nghỉ, thì thỉnh một bức hình Phật hay Bồ Tát để ngay đầu nằm sao cho khi mở mắt là thấy Phật.

Như vậy, cung phụng chư Phật, Bồ Tát đêm ngày há chẳng hay hơn vào Chùa, Viện, v.v… làm tôi mọi mà còn rước lấy phiền não!

Ăn chay thì mỗi tháng 4 ngày, 6 ngày, 10 ngày tùy theo hoàn cảnh, đừng ăn chay trường! Nên nhớ ăn chay là vì từ tâm, không phải vì sợ bệnh mà ăn, cũng không phải vì tiếng khen mà ăn.

Đồng Danh Thần sẽ vui mà chuyễn tên theo các bạn và theo các cháu.

Đây mới là con Phật, là tín-đồ thật sự của Phật ta.

Lời ít, ý nhiều, đọc cho cẩn thận và thực hành theo. Nếu thân tâm bất an thì đây là pháp không hợp với mình. Bỏ đi cũng không muộn! Rồi sám hối iếp chờ có thuận duên hãy quy y cùng thế tục Tăng/Ni.

Ta có hai điều không nhận:

1) Đệ tử, xin đừng vào inbox cầu, vì sao? – Vì ta chỉ lên FB trong khoảng thời gian Đại Dịch (18 tháng), sau đó rút vào bóng tối, trang nghiêm Phật-độ. Ta không còn quan hệ với các bạn và các cháu. Nghe hơi tàn nhẫn, nhưng sự thật là vậy. 2) Cúng dường, tại sao? – Ta thí xả tất cả từ năm 2013, cớ sao nhận của tiền của người khác.

Tại sao ta phải đánh đổi sự cần khổ tìm học Chánh-Pháp với chư Phật Thế Tôn bằng Thân Trong Mộng và Thân Thiền Định để đánh đổi ác nghiệp của các bạn và các chau? Đến khi ta lở nói một câu xúc phạm đến nhân cách, tự ái của các bạn, các cháu thì từ ÂN chuyển sng OÁN-HẬN chẳng mấy hồi.

Ai xả bỏ được ngã và ngã-sở, nguyện đem thân-khẩu-ý phục tùng ta, không chống trái, như tôi trung thờ Chúa Thánh, thì tự thân ta sẽ ĐẾN và an ủi “Ta có Kim-Cang Đại Thừa Giáo, con là bậc Pháp-khí, hãy vì chúng sanh mà nhận lấy, tiếp nối, chớ để đoạn tuyệt”, hoặc trong Mộng, hay trong Thiền-định ắt sẽ thấy ta và chư Phật!

Ai khởi nghịch tâm với ta, tức là cắt đứt căn lành vậy!

PHỤ CHÚ ————-

Ta đến viếng HT Thanh Từ năm 2003 và cảnh cáo HT về bệnh tật sắp đến. HT chỉ cười xòa! Khi ta quay về Mỹ, HT ngã bệnh từ đó!

Ta gặp HT Trí Tịnh lần cuối năm 2011, thăm hỏi qua loa, Thầy khuyên ta “niệm Phật đi con”! Chẳng cần biết ta là ai. Đến khi HT mãn phần thì về báo mộng xin ta trợ giúp!

Ta biết HT Trí Tịnh năm 1981, nhưng Thầy không hề nhớ ta. Ta viết thơ cho một người muốn xuất gia, HT Thanh Từ đã nhận cũng vào năm 1981, nhưng Thầy không hề biết ta.

Ta không phải là đệ tử hay học pháp với bất cứ vị Thầy nổi danh đã nêu tên ở trên.

Pram Nguyen

PHÁP DANH?Soạn giả Pram NguyenNgày 26/3/2024— o0o —Chúng sanh trong tứ sanh lục đạo, sanh ra đều có hai vị…

Người đăng: Pram Nguyen vào Thứ Năm, 26 tháng 3, 2024

Sunshine Nguyen Lời của ngài sao tàn nhẫn quá , đọc mà tim con thắc lại, sao ngài đành bỏ chúng con sau 18 tháng nữa

Pram Nguyen Khi tật dịch đến thì như núi đổ ai chống lại được? Khi duyên hết ai nối lại? Khi nghiệp dứt ai kéo được? Con tu tập khá tốt. Chỉ trong mấy tháng nay mà bằng người ta tu cả đời vẫn chưa khiến các luồng Khí và Gió vào ống dẫn Trung tâm bước vào Giai Đoạn Hoàn-Tất, nếu không tu nhiều đời nhiều kiếp, chưa chắc gì những câu Thần Chú và những giáo huấn đặc biệt có thể giúp con một bước nhãy vào mãnh đất của Như-Lai. Ta sẽ tiếp tục dạy con trong Thiền định! Con phải ráng tu thì 18 tháng rất là lâu, cũng như người ta mong và cầu nguyện cho Đại Dịch chóng qua. Bây giờ sang Xuân, tới Hè thì dịch chuột mới là nguy!

Sunshine Nguyen Pram Nguyen da con cam ơn ngai ❤️

Trương Khả Di Thật trùng hợp, Thầy con cũng vừa nói với con phải đến cuối năm Sửu, có khi kéo đến năm Dần mới hết dịch bệnh!

Sunshine Nguyen Trương Khả Di ngài nói “chuột mang dịch bệnh không ai hay“ trích từ điên ca của ngài , ban đọc thi sẽ biết dịch bệnh sẽ kéo dài đến năm nào.

Lan Thu Con thưa Chú, nếu con theo Pháp Địa Tạng thì con dùng Địa + tên riêng luôn được ko ạ? Vì con có hảo mộng về Ngài nhiều hơn các vị khác. Thế thì có cần phải bốc thăm không Chú?

Pram Nguyen Nếu con muốn uy mãnh thì Ksi + tên con

Lê Nguyễn Quỳnh Tên ngài Địa Tạng tiếng Phạn là Ksitigarbha (Ksiti là Địa, Garbha là Tạng)

Phoi Tran Đọc bài Pháp con không khỏi xúc động và cảm xúc lẫn lộn vui và buồn, Chú như là một vị Bồ Tát đến để độ người hữu duyên như chúng con,Chú sẻ như một cơn gió và không để lại dấu vết ngoài những bài Pháp để hoá độ chúng con,nghĩ thấy mà buồn Chú ạ,nhưng Chú trang nghiêm cõi Phật xong sẻ độ tiếp cho chúng con mà hjhj…

Pram Nguyen Nếu căn lành không suy suyễn.

Phoi Tran Pram Nguyen dạ.Con xin đảnh lễ Ngài

Đào Đạt Thịnh Con kính lễ Bậc Thiện Tri Thức

Con cung kính và tán thán lòng Từ Bi của Người vì lợi ích chúng sanh, Ngày xưa , do lúc này chưa biết gì và k chánh kiến , con có tham dự khóa tu mùa hè chùa Hoằng Pháp và có quy y (đăng ký quy y theo số đông) ở đó với HT Thích Chân Tính, nhưng sau khi quy y thì thấy mộng xấu là người đuổi đánh hoặc cảnh bất tịnh . Tệ hơn là sau đó mỗi khi niệm Phật thì sau mỗi tiếng niệm Phật là tâm phỉ báng hiện lên hừng hực khó kiểm soát .

Con cũng có đi tụng Chú Đại Bi cũng như sau thời gian tu tập thì sự phỉ báng này giảm (chắc khoảng 80%) . Đến nay vẫn còn nhưng nhẹ hơn, lắm lúc tâm phỉ báng đó nó lại lái đến Chú hoặc Cư Sĩ Hương Trần , chư Tôn hoặc những ai con biết là Thiện Tri Thức . Vì vậy con viết những dòng này là muốn trình bày lỗi lầm xấu tệ với Chú , và cũng cũng sẽ làm theo Pháp mà Chú dạy là xả Quy Y với những vị Thầy trước đây , sau là nguyện tự Quy Y như Chú đã dạy . Con mong mình mau chóng điều phục được chướng ngại này để có thể phụng sự chư Thiện Tri Thức với tâm thanh tịnh.

Pram Nguyen Bày cái lỗi của mình. con dám đăng lên cho các bạn thấy biết lỗi mình, đó là Sám hối. Sau đó, chọn ngày mùng 8 hay 14, 15 mà Tự Quy Y, tự đặt Pháp danh, thì tội hũy báng sẽ dứt. Mộng lành sẽ đến.

Đào Đạt Thịnh Con cung kính và tri ân Chú đã dạy bảo, con sẽ làm theo những gì Chú đã dạy ạ

Minh Thiền Đào Đạt Thịnh Sao giống a vậy, nhưng a qui y với thầy Thích Phước Tiến, thỉnh thoảng hãy có ý tưởng bất tịnh về chư Phật và Bồ Tát, còn có lòng nghi về chú Pram Nguyen, a không dũng cảm như em anh chỉ dám inbox inbox sám hối với chú rồi,…còn niệm phỉ báng thì thỉnh thoảng vẫn hiện. Nghiệp báo nặng quá…rõ khổ…

Lê Nguyễn Quỳnh Rất cảm ơn, tri ân những lời Pháp quý báu chú Pram chia sẻ! Xin đóng góp thêm là Mật tông Tây Tạng ngoài Đức Bổn Sư Shakyamuni (Thích Ca Mâu Ni), vị Bổn Sư quan trọng của Mật tông Tây Tạng là Đức Liên Hoa Sinh Padmasambhava. Những vị nào nhập định trong thiền định, sẽ hiểu sứ mệnh và vai trò của Ngài Liên Hoa Sinh với toàn bộ Mật tông Tây Tạng. Trong 1 số Kinh điển Mật tông có ghi lại, chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên bố: 12 năm sau khi Ngài nhập diệt, Ngài sẽ hóa thân trở lại thành Đức Liên Hoa Sinh. Hóa thân này sinh ra trong bông hoa sen trên 1 hồ nước như trong bản văn này!

Lê Nguyễn Quỳnh Pram Nguyen bức hình chú Pram để cũng đã là Mật giáo cao cấp về Tịnh Quang và Giác Tánh, Mahasukha và Shunyata bất khả phân rồi. Có cái con ko bao giờ dám đăng các hình này trên mạng xã hội, các chư Tôn phẫn nộ và chư tôn với consort thuộc 14 giới samaya.

Pram Nguyen Lê Nguyễn Quỳnh Nếu bạn thấy biểu tượng đó là dâm ô thì đã phạm Samaya rồi!

Pram Nguyen Lê Nguyễn Quỳnh Nếu nhìn mà xúc phạm thì tội đọa Địa ngục. Ráng chịu cho quen! Nhưng vẫn có gieo chút ác duyên, ngày sau ra khỏi Địa ngục nhờ đó biết tu cũng không chừng. Đại Bi của Phật và Bồ Tát chư Trì MInh Vương, Chư Đại Phẩn Nộ Tôn cũng không rời lý nầy. Giết để ban cho họ Giới Thân Huệ Mạng mới. Há chẳng thấy tôn tượng ngài Hàng Tam Thế đạp chết vợ chồng Đại Tự Tại Thiên và Uma sao? Bậc Thầy trong Mật Giáo, Kim Cang Thừa há sợ Địa Ngục sao? Bạn chưa dám hành Phi-Đạo tức Phật Đạo!

Lê Nguyễn Quỳnh Xuống Địa Ngục chỉ có 2 dạng chúng sinh: 1 là Uy lực, nguyện lực mãnh liệt như Đức Địa Tạng Ksitigarbha. Muốn uy lực phải giữ giới thật cẩn trọng. 2 là các chúng sinh nghiệp lực quá nặng bị đày xuống. Con ko có sợ Địa ngục, và vẫn nguyện đi xuống đó phụ cùng mấy ông Thầy con, nhưng con vẫn giữ giới. Mỗi người có 1 cách tu hành, con vẫn trân trọng con đường của chú và con chỉ chia sẻ con đường riêng của con

Trương Nga Lê Nguyễn Quỳnh Theo em nghĩ… anh chưa hiểu ý chú Pram lắm. Ý Chú Pram là cứ đăng cho họ thấy để gieo và kết cái DUYÊN với Phật Đạo. Phàm như khởi nghĩ phỉ báng, ý nghĩ xấu thì quả báo địa ngục! Nhưng kiểu gì trong luân hồi cũng chẳng có lúc đọa địa ngục, chi bằng đọa vì phỉ báng Tôn Ảnh để kết một chút duyên thì tốt hơn là đọa địa ngục vì giết chóc. Nhưng, sau đó thì cũng nhờ cái DUYÊN ( dù là ác duyên) này mà kết duyên với Phật Đạo, nên sau ra khỏi Địa Ngục biết tu cũng không chừng.

Xuống địa ngục vì phỉ báng, tức là giết để ban cho Giới Thân Huệ Mạng mới. Tức là có lẽ sau đó, họ sẽ bén duyên dần dần với Phật Đạo hơn…! Biết đâu nhờ đó tu chứng. Nên chẳng có gì phải sợ khi mình đang Thủ Hộ Chánh Pháp Như Lai.

Pram Nguyen Trương Nga Đúng như con nói. Nếu người vì ta mà đọa Địa Ngục thì ta sẽ sanh cùng với họ trong Địa Ngục mà dùng tiếng Địa Ngục để cứu họ. Chỉ e nữa tin nữa ngờ thì hết cứu! Trước khen sau nói xấu thì bó tay!

Lê Nguyễn Quỳnh Trương Nga e nghĩ anh ko hiểu những điều này sao… A rất hiểu những điều e nói và cả những điều khác e chưa nói tới. Nhưng có những điều khác! Tại sao Mật tông lại là “Mật” – không dc tiết lộ cho người ko đủ điều kiện. Đó là từ bi và trí tuệ rất sâu sa. Còn a biết, 1 vị tu rất cao, có thể đóng vai Phi Đạo để độ người. Người đó có thể làm những việc khó khăn hơn rất nhiều, những việc có thể đi xuống địa ngục vì người khác (gồm cả những giới trọng như sát, dâm, nộ, si..), nhưng khi thị hiện các việc đó, họ sẽ chọn 1 vai diễn khác, ko nằm trong Hiển giáo. Cũng như hình Phật Hiển giáo cũng rất nhiều hình đẹp để reo duyên. Còn chắc e chưa có thể nghiệm Địa ngục nên e nghĩ vậy. Giờ cho em ngày nào cũng có đầu gấu vác dao đến nhà đòi nợ, quăng đồ bẩn vào nhà em, đe dọa gia đình em. E có thể tu dc ko? Rất khó! Chúng sinh dưới địa ngục cũng vậy, quá phiền não, khổ sở, gần như ko thể tu. Và thời gian dưới đó quá lâu, như e học hết 12 năm học vào Đại học, bảo e giờ học lại từ đầu, vậy có lãng phí không. Còn các bậc vĩ đại xuống Địa Ngục, hay hành các hành năng Phi Đạo, Ngoại Đạo để hóa độ, họ phải Đắc Địa Bất Thoái Chuyển. Bồ Tát ít nhất cấp 49 để ko bao giờ bị nghiệp lực kéo đi. Như vậy mình mới ko bị Địa ngục ảnh hưởng và còn kéo dc ng khác lên nữa. E chưa bơi giỏi, e lại nguyện cứu ng chết đuối, Cả 2 cùng chết, vậy là tự hại sinh mạng mình. Sát sinh là xuống địa ngục 500 kiếp. E nghĩ vậy có đúng không? Chư Bồ Tát có cách xuống riêng của các Ngài!

Trương Nga Lê Nguyễn Quỳnh Em hiểu ý anh. Ý anh là nhắc đến khía cạnh “Từ Bi”, là vì Từ Bi – không muốn bất cứ ai vì do vô minh phỉ báng Phật, Bồ Tát mà đọa địa ngục. Vì quảng thời gian đó rất dài lâu và đau đớn. Em hiểu ý anh.

Nhưng bên trên là em cũng đang giải thích cái ý của Chú Pram lúc nãy cho anh hiểu. Vì lúc nãy, có vẻ như anh đang hiểu nhầm ý Chú muốn nói, nên anh mới giải thích là “con không có sợ Địa Ngục”. Vì Chú không hề nói anh sợ đọa hay không – mà Chú đang nhắm đến họ – những người nhìn thấy hình ảnh và phỉ báng! Mà ý Chú là nhờ ác duyên ấy mà những người đó – họ – sau khi đọa lạc sẽ kết duyên với Phật Đạo, biết đâu tu chứng về sau.

Em chỉ giải thích chỗ đó ý chú cho rõ thôi. Không phải giải thích cho anh, mà cả cho những người đọc khác tránh hiểu lầm ý Chú.

Còn con đường anh đi, thì anh cứ đi. Chú nói những lời đó cũng không phải là thiếu Từ Bi. Mà đó là con đường “cao sâu” hơn, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn của những Vị nhiệm vụ chính là Thủ Hộ Chánh Pháp Như Lai.

Còn anh là hướng đến tu tập giác ngộ tự thân trước rồi mới tính, thì anh cứ làm. Và ý em muốn nói là anh không cần nên nhắc nhở với Chú rằng những điều “lo sợ” như cmt đầu của anh.

Vì Chú đang đi một con đường trên anh. Mặc dù em biết anh cũng khá cao thâm rồi, tinh tấn rồi.

Pram Nguyen Lê Nguyễn Quỳnh Kim Cang Thừa bây giờ ghi thành sách vở thì bí mật đã bật mí từ lâu. Đừng hù Trương Nga.

Lê Nguyễn Quỳnh Pram Nguyen chú à, con chia sẻ cùng e, ko hù doạ gì. Khi Mật thừa sang Âu Mỹ thì họ đã vi phạm giới nghiêm tiết lộ nó ra 1 phần nào. Nhưng tinh túy của nó thì vẫn là bí mật. Con chia sẻ trên tinh thần tôn trọng sự khác biệt vậy thôi. Đức Liên Hoa Sinh có dạy con 1 câu thần chú riêng, ko có ở bên ngoài. Chú Pram có thể đi vào tâm con và ghi nó ra. Như vậy Mật thừa, con tin là ko còn bí mật gì nữa

Pram Nguyen Lê Nguyễn Quỳnh ta chưa từng nghe Bồ Tát 49 Địa! 40 Địa đầu gọi Tiền Địa không thể gọp chung với Thập Địa chánh-vị. 

Chú có chú giải các bản văn của ngài Liên Hoa Sanh lâu lắm rồi. Pháp Đại Viên Mãn, các Giáo lý bí truyền các Terma, chú cũng rất rành! Chớ không phải học trên sách vở mà bằng linh ảnh…

Lê Nguyễn Quỳnh Pram Nguyen con ghi rất cẩn thận là cấp 49. Con ko ghi là Địa 49 vì con biết Thập Địa là 10 Địa cuối. Trước khi qua Đẳng Giác, Diệu Giác. Trước đó ko gọi là Địa, mà là Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh rồi mới tới Thập Địa. Con cũng ít khi ra ngoài, có 1 quãng 7 năm con ko có dùng mạng xã hội. Các vị Thầy con đa phần là cư sĩ mật hạnh như chú Pram, có 1 vị xuất gia thì hành xử điên khùng như Tế Công, uống rượu, chửi mắng, ca hát, khùng điên thất thường nhưng đó là giả vờ điên. Tiền kiếp tu tập của mình, tu học con cũng học trong vô hình, linh ảnh các vị Tổ trong truyền thừa. Mà thôi mấy việc này, ko quan trọng. Con yêu mến, tôn trọng chú cùng các anh em vô cùng là dc rồi. Đóng góp dc gì con đóng góp vậy thôi.

Mỹ Dung Bác cho con hỏi: thắng duyên là gì thưa bác ?

Pram Nguyen Thắng duyên là gặp Phật, ở nơi có bạn lành. Ví dụ ngay cõi Ta Bà, đức Phật Thích ca chưa hề ẩn mất, nhưng phàm phu leo lên núi Kỳ Xà Quật chẳng thấy nên gọi là ác duyên.

Angel Nguyễn Con hoan hỷ tiếp nhận lời chỉ dạy từ chú, và nguyện đem thân – khẩu – ý phục tùng theo chú, hành theo những gì chú dạy bảo, ngày đêm sám hối, lễ Phật, cầu duyên lành cho con sẽ luôn nhận được sự bảo ban và an ủi kịp thời từ chú để ko bị mê lầm trên con đường tu tập. Nam mô A Di Đà Phật🙏🏻

Pram Nguyen chú chỉ là cái loa của Phật Chánh Giáo, làm sao biết được cảnh giới Giải Thoát Bất Khả Tư Nghị, Vô Nhị Pháp Môn, Phổ Hiền Tam Muội, v.v… nếu con hết lòng như vậy, nguyện sẽ sẽ được chư Thiện Tri Thức trao tay chỉ dẫn, mãi đến Bồ Đề khoảng giữa không sa vào Ác Đạo.

Angel Nguyễn Pram Nguyen dạ, con xin tri ân những ân đức từ chú và các chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thiện Tri Thức đã hết lòng vì tất cả chúng sinh này🙏🏻

Thới Lai Con cúi đầu đảnh lễ người . Con chưa gặp người ngoài đời . Chỉ gặp 1 lần trong mộng . Khi gặp người trên Facebook khi đó con chủ động thỉnh hỏi người về pháp tu và Con đã tu tập theo người chỉ dẫn . Vì nghiệp dày phúc mỏng, Vô minh nên con đi chọc phá tà đạo bị nó hại. Khi đó người đã từ bi chỉ dạy con quán và trì chú . Con thành tâm trì niệm trong mấy ngày và kết quả là được giải ra . Tuy người ko nhận trò . Nhưng lòng con luôn cung kính người như bậc đạo sư . Cảm ơn người đã trợ duyên cho huynh đệ tu tập cảm ơn người đã bài phá tà kiến và hiển chánh . Tụi con cho dù nghiệp dày phúc mõng . Còn chút báu thân này . Sẽ cùng nhau chia sẻ chánh pháp mà người đã chỉ dạy. Dẫu biết duyên tan hợp . Nhưng vì còn là thân người nên không thể nào che giấu được cảm xúc . Cảm ơn người . Chúc người an lành .

Pram Nguyen Thới Lai nguyện cho con khi mãn thân bỏ uế về Tịnh. Được cả 2 Thân Chánh Pháp và Giáo Lệnh quay lại uế độ dùng Đại Thần Lực ăn nuốt ác quỷ thần tàn hại sanh linh, đưa họ vào chánh pháp như Liên Hoa Sanh Đại Sĩ thuở xưa.

Thới Lai Pram Nguyen con sẽ cố gắng . Cảm ơn người trợ lực lẫn duyên lành cho con

Lệ Nguyên Chú ơi ! Chẳng hiểu sao khi con đọc bài viết này của chú lòng con bồi hồi, xúc động quá, những lời dặn dò từ tận đáy lòng của một người cha dành cho các con thơ vào những giây phút cuối khi sắp chia xa, dù mai này chú có ẩn tích không còn gặp chú nữa con cũng sẽ lấy hình ảnh chú để làm hành trang trên bước đường tu học. Con kính chúc chú pháp thể khinh an chúng sanh nhị độ, thủ hộ chánh pháp thành tựu viên mãn.

Pram Nguyen Lệ Nguyên quá lời rồi.

Vàng Sen Trời ơi, vừa buồn vì chú nói mà mình nông cạn ko hiểu j, sao lại như lời tiễn biệt vậy ạ. Đọc các cmt của mọi ng mình lại như tàu hoả nhập ma. Trời ơi sao mọi người lại uyên thâm vậy. Chạy lên nhìn hình rồi lại chạy xuống đọc cmt, chỉ là lơ tơ mơ. Nhưng nặng nề nhất vẫn là chú nói câu từ biệt. Mình thì vừa mới đến cổng trường, lúc nào cũng là vậy, biết thì đã muộn. Huhu.

Pram Nguyen Ráng học, sẽ có các bậc thượng nhân chỉ. 

Vàng Sen Pram Nguyen vâng ạ. Con sẽ ráng học. Nhất định là như vậy chú ạ. Cảm ơn chú ạ. Chú nhớ giữ sức khoẻ biết đâu có ngày con lại được làm phiền chú. 🙏🙏🙏

Pram Nguyen Vàng Sen Nếu con ráng học ắt sẽ gặp.

Vàng Sen Pram Nguyen vâng ạ 🙏🙏🙏

Nguyễn Yến Dạ con đã phát nguyện ăn chay trường rồi ạ, vì nghe theo Đức Phật Bổn Sư dạy, con luôn quán tất cả chúng sanh là cha mẹ mình nên con ăn chay trường như vậy có được không ạ ?,con sẽ giữ tâm thanh tịnh, từ bi như vậy không dám làm trái tâm nguyện ạ., Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🙏🙏

Pram Nguyen Ăn chay trường là điều hay, nếu con không làm lụng vất vả. Nhưng phải nhớ lấy lòng từ làm trước. Chưa đủ duyên thì ăn 4 ngày, trong 4 ngày chay phải nhớ niệm Tứ Vô Lượng Tâm. Nếu trì Lục Tự Đại Minh thì ăn mặn có lợi hơn ăn chay. Xem Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương.

Nguyễn Yến Pram Nguyen Dạ con quyết định chay trường ạ, mong Thầy chấp nhận cho lòng con, hiện tại con chưa biết pháp môn gì là hợp với căn cơ con nên con sẽ chuyên sám hối đọc kinh Địa Tạng Thầy bảo ạ

Pram Nguyen Nguyễn Yến Tùy hỷ. Cho con thỏa nguyện. Nguyện con tâm tâm ứng hợp với Từ Thị Di Lặc Thế Tôn, nguyện nguyện in hệt ngài Địa Tạng, tu hành mau cho1nh thấy Chân Tâm nhờ Vô Sanh Sám Pháp

Nguyễn Yến Pram Nguyen Dạ con Nam Mô A Di Đà Phật, con xin lạy tạ Thầy 🙏🙏🙏

Vũ Trần Hữu Minh Pram Nguyen trước khi Chú rút vào bóng tối, Chú có thể hướng dẫn cháu bắt đầu tu tập đc k ạ.

Pram Nguyen Đã bắt đầu từ lâu. Coi lại. Chỗ nào vướng mắc thì hỏi. Chú sẽ tháo đinh bạt chốt cho. Ngay bây giờ! Đừng chần chờ. Bệnh đến như núi đổ!

Nguyễn Thị Yến Pram Nguyen dạ cháu muốn hỏi coi lại ở đâu để bắt đầu tu tập như thế nào a! Cháu cảm ơn a!

Phạm Văn Thiệp Tri ân công đức của Chú ạ

Lê Trường Thọ Bài viết rất hay không câu nệ, phá chấp, cám ơn chú!

Nguyễn Yến Nam Mô A Di Đà Phật,Thầy đã đặt tên cho con là Tín Lạc,vậy con không cần phải tự đặt tên gì nữa ạ? Con thấy con có duyên với Bồ Tát Quán Thế Âm,vì con mơ thấy Ngài lâu rồi (không nhớ rõ vào năm nào), con ngắm nhìn Ngài không chán, trong tâm xem Ngài như một người Mẹ hiền,có chuyện gì con cũng tâm sự tỏ bày với Bồ Tát.Nhưng Thầy là người trực tiếp dẫn dắt dạy đạo cho con, vậy nên con đang thắc mắc chọn Bồ Tát hay nhớ tưởng đến hình ảnh của Thầy để quán tưởng trước khi đi ngủ hay thế nào ạ ? Bố mẹ con không tin không hiểu đạo, con thờ Bồ Tát trong phòng ngủ con thì có phạm lỗi không ạ? Câu hỏi cuối là con ko phát nguyện sinh về cõi Phật, mà sanh cõi Ta Bà như trong Lương Hoàng Bảo Sám có viết,sinh vào 6 nẻo luân hồi nào thì làm lợi cho chúng sanh ở nẻo ấy,phát nguyện như vậy có nguy hiểm không khi con chưa tu đến đâu, có nên phát nguyện vãng sanh cõi Phật cho chắc ăn không ạ 😅😅 Con nhiều điều thắc mắc làm phiền Thầy quá ạ. Con xin thỉnh cầu Thầy từ bi khai thị cho đầu óc tăm tối của con được khai sáng dần ạ Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🙏🙏

Luật Danh Pháp Và Cách Đọc Tên Khoa Học Các Loài Cây

Danh pháp thực vật đã xuất hiện từ năm 1753, năm xuất bản đầu tiên của công trình Species Plantarum của Carl Linnaeus. Sau đó các quy tắc về danh pháp được khẳng định qua các hội nghị quốc tế về thực vật học trên thế giới bắt đầu từ Hội nghị Paris (1867) trở đi. Ngày nay chúng ta đã biết giới thực vật được chia thành:

Ngành và phân ngành

Lớp và phân lớp

Bộ và phân bộ

Họ và phân họ

Tông và phân tông

Chi và phân chi

Tổ và phân tổ

Loạt và phân loạt

Loài và phân loài

Thứ và phân thứ hoặc giống trồng

Dạng và phân dạng

Trong đó, bậc phân loại loài các đơn vị cơ bản (Ngành, Lớp, Bộ và Họ) và tiếp đó là bậc chi (trước đây dùng chữ giống) là thông dụng nhất.

Tên khoa học gồm ít nhất 2 tên (chi và loài). Tên cây phải được viết bằng chữ La tinh. Tên La tinh là bắt buộc đối với các chi, loài, thứ, các bậc dưới chi, loài và thứ. Tên La tinh thường được viết nghiêng. Các bản mô tả gốc của các họ, phân họ, tông, phân tông, chi, phân chi, tổ, phân tổ, loạt, phân loạt… loài và các bậc dưới loài phải viết bằng chưa La tinh.

Hiện nay, các nhà thực vật hay dùng các chữ “taxa“, “taxanomia” láy từ chữ Hy Lạp “taxis” nghĩa là xắp xếp và “monos” nghĩa là tên. Khái niệm đó thường dùng tắt với thuật ngữ “taxa” ở số nhiều và “taxon” ở số ít. Để phân loại cây cỏ, người ta đặt ra một loạt các bậc với sự sắp xếp các tên để hạn định các bậc taxa như sau:

Thuật ngữ cho các bậc phân loại từ Ngành đến Tông

Người ta còn đặt thêm bậc phụ với tiếp tiền tố super và có tiếp vị tố cụ thể ứng với từng bâc đi kèm, ví dụ như superordo – liên bộ với tiếp vị tố là -anae

Về nguyên tắc, các tên của các bậc từ ngành đến phân lớp được cấu tạo bằng một tên có nguồn gốc Hy Lạp viết dưới dạng La tinh. Tên bộ được cấu tạo từ tên Họ thuộc bộ đó và tên Họ của từ gốc của tên chi điển hình hoặc một tên đồng nghĩa. Do đó khi biết một tiếp tố được thêm vào gốc ta có thể biết được bậc của taxon hay tên đó.

Nếu như tên của một họ là một tính từ số nhiều dùng như một danh từ thì tên của chi là một từ danh từ hoặc một tính từ dùng như một danh từ và luôn luôn ở số ít. Tên của các bậc phân loại lớn hơn loài đều phải viết in hoa.

Viết tên cây

Tên chi, phân chi và tổ đều viết nghiêng, chữ đầu viết hoa, phần còn lại viết thường. Khi cần mô tả nhiều loài cùng một chi, người ta viết tắt tên chi bằng chữ viết hoa kèm theo dấu chấm. Tên loài được xác định bởi tên của chi kèm theo một tính ngữ, tên loài có thể gồm một từ hay hai từ nối liền nhau.

Ví dụ: Plantagor major, Alisma plantago-aquatica.

Tính ngữ chỉ tên loài đều viết thường, không bao giờ viết hoa ngay cả khi tên đó lấy từ tên người (đương đại hay trong thần thoại) hoặc tên địa phương.

Nếu gặp một loài chưa biết, người ta thường viết tắt tên loài bằng chữ viết tắt sp. (species), viết đứng. Nếu có nhiều loài thuộc về cùng một chi nhưng không chỉ rõ loài nào, người ta có thể viết tắt thành spp., có nghĩa species plurima (nhiều loài), hoặc sp. plur.

Đối với tên phân loài, thứ và dạng cũng được cấu tạo dạng subsp. hay ssp.; var. và form. kiểu chữ đứng. Tên kèm theo các chữ viết tắt này viết nghiêng.

Ví dụ: Setaria palmifolia var. rubra; Agapanthus inapertus ssp. pendulus

Một tên cây đầy đủ phải kèm theo tên của tác giả đã công bố nó. Tên tác giả viết theo hệ chữ cái La Mã (chữ đứng) và phải viết tắt trừ trường hợp tên rất ngắn. Tên viết tắt phải kèm theo dấu chấm, miến sao tránh được sự nhầm lẫn giữa người này và người khác.

Ví dụ: L. (chỉ Carl Linnaeus); DC. (chỉ De Candolle); Guill. (chỉ Guillemin); Guillaum. (chỉ Guillaumin)

Nếu một tên chưa từng được công bố đã được công bố hợp pháp gắn với tên tác giả của nó thì người ta phải ghi tên tác giả của nó. Đối với cây có nguồn gốc trồng trọt cũng vậy. Nếu là cây trồng nhưng không biết tên của người trồng tạo ra nó thì thay vào tên tác giả người ta viết chữ “Hort”.

Ví dụ: Rauvolfia chaudocensis Pierre ex Pitard, loài này cùng được Pierre và Pitard cùng công bố (ex: cùng) hợp pháp độc lập.

Calanthe argenteo-striata C. Z. Tang et S. J. Cheng, Loài này được C. Z. Tang và S. J. Cheng cùng công bố trong một bài báo (et: và) hợp pháp

Nếu có một loài đã được mô tả và nêu tên, được chuyển sang một chi khác bởi một tác giả mới thì tác giả sau phải giữ tên loài gốc (trừ những điều trắc trở). Trong trường hợp này, danh pháp lưỡng nôm mới sẽ kèm theo tên của tác giả đã công bố nó trước đó được đặt trong ngoặc đơn và tên của tác giả công bố sau đặt sau cùng.

Ví dụ: cây Nhọc trái khớp, trước đây Diels đặt tên là Polyalthia plagioneura Diels, sau này Nguyễn Tiến Bân chuyển sang chi Enicosanthellum nên tên loài hiện tại viết là Enicosanthellum plagioneura (Diels) Ban

Tên đồng nghĩa và luật ưu tiên

Tên đồng nghĩa (synonym) cũng là tên La tinh. Khi có trường hợp đồng nghĩa thì tên xưa nhất được giữ lại nếu nó đúng và có giá trị (đúng theo luật quốc tế về sự ưu tiên). Tên đồng nghĩa được đặt trong ngoặc đơn sau tên chính thức.

Ví dụ: Neptunia oleracea Lour. do Lourerio đặt ra năm 1790, sau đó, Willdenow căn cứ vào một mẫu lộn xộn Mimosa natans L.f. để đặt tên loài này thành một loài khác là Desmanthus natans (L.f.) Willd. vào năm1825.

Vậy ta phải viết Neptunia oleracea Lour. (Desmanthus natans (L.f.) Willd.)

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Loại Và Danh Pháp Vi Sinh Vật trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!