Xu Hướng 2/2024 # Tên Đường Ở Sài Gòn Xưa Được Đặt Như Thế Nào # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tên Đường Ở Sài Gòn Xưa Được Đặt Như Thế Nào được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thành lập Ủy ban đổi tên đường đô thành để thay tên các con đường do Pháp đặt sang tiếng Việt. Chúng được đặt theo từng cụm, gồm các nhân vật hay sự kiện gần gũi nhau mang nhiều ý nghĩa lịch sử.

Đi từ cửa ngõ vào tới trung tâm Sài Gòn sẽ thấy cả một chiều dài lịch sử của Việt Nam qua từng con đường. Cửa ngõ Bến xe Miền Tây có các đường Hồng Bàng, Hùng Vương, An Dương Vương, Bà Triệu… rồi đến Lý Nam Đế, Lý Thường Kiệt, Triệu Quang Phục… tiếp đến là Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Chiêu Hoàng…

Các bến sông Vạn Kiếp, Hàm Tử, Chương Dương… được đặt theo tên các trận đánh hiển hách của quân dân nhà Trần trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai 1284-1285. Còn bến Bạch Đằng được đặt theo con sông nơi Ngô Quyền lãnh đạo quân dân đánh thắng quân Nam Hán năm 938 …

Càng gần trung tâm, các sự kiện, nhân vật càng tiệm cận đến hiện tại. Tại quận 1, con đường trước cổng Dinh Độc Lập (nối đến Thảo Cầm viên) dài hơn một km trước đây tên Thống Nhất (nay là đại lộ Lê Duẩn). Tên gọi này được cho là mang hàm ý sau dòng chảy 4.000 năm lịch sử thì tất cả đều tập trung về đây – đại lộ đẹp và rộng dẫn thẳng vào cơ quan quyền lực cao nhất thời đó.

Phía trước, đường một chiều chạy ngang cổng chính Dinh Độc Lập và TAND TP HCM được mang tên Công Lý (được cho là để ám chỉ công lý thì chỉ một chiều đúng hoặc sai). Sau năm 1975, đường Công Lý được đổi tên thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Dọc theo Đại lộ Thống Nhất có 2 đường nhỏ mang tên Hàn Thuyên và Alexandre de Rhodes để nhớ ơn những người đã tạo ra ngôn ngữ cho nước Việt. Hàn Thuyên là người sáng tạo ra chữ Nôm (được người Việt dùng trong gần 10 thế kỷ) để thay cho chữ Hán. Còn Alexandre de Rhodes – giáo sĩ người Pháp, có công lớn trong việc tạo ra chữ Quốc ngữ đang sử dụng.

Hai mặt cửa Đông và Tây chợ Bến Thành cũng có 2 đường song song được đặt tên theo danh nhân Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh một cách đầy ngụ ý. Một người khởi xướng phong trao Đông Du, người còn lại thì kêu gọi cải cách, học theo những tư tưởng tiến bộ của phương Tây để phát triển.

Trong khi đó, tên các danh tướng nhà Trần được đặt cho các tuyến đường gần nhau ở khu Tân Định (quận 1), gồm: Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải…

Cụm danh tướng nhà Lê ở quận 4 gồm: Đinh Lễ, Lê Quốc Hưng, Lê Thạch, Lê Văn Linh.

Ở khu vực quận 3 là những con đường mang tên nhà văn, nhà thơ, học sĩ: Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Lê Ngô Cát, Đặng Trần Côn, Tú Xương, Nguyễn Gia Thiều… cùng các võ tướng Tây Sơn như: Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Ngô Thời Nhiệm.

Các nhà cách mạng tham gia khởi nghĩa Yên Bái chống Pháp (1930) gồm Nguyễn Thái Học (người sáng lập Việt Nam Quốc dân Đảng), Cô Giang (Nguyễn Thị Giang – vợ ông Nguyễn Thái Học), Cô Bắc (tên thật là Nguyễn Thị Bắc – em gái Cô Giang), Phó Đức Chính, Ký Con (tên thật là Đoàn Trần Nghiệp), Nguyễn Khắc Nhu… nằm ở khu vực Bến Thành (quận 1).

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư (một trong hai tác giả sách Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh), Hội đồng đặt tên đường thời đó (1955) thường đặt theo khóm, cụm. Đó là cách đặt tên rất khoa học và rất hay, chỉ cần biết một tên đường có thể hình dung ra một khu vực.

Hiện, những cụm tên danh nhân vẫn được Hội đồng đặt tên đường thành phố giữ nguyên. Bên cạnh đó, một số cụm tên đường mới được hình thành như: cụm đường tên các loài hoa ở quận Phú Nhuận như: Hoa Lan, Hoa Sứ, Hoa Huệ, Hoa Cúc, Hoa Hồng…

Theo đề án Đặt, đổi tên đường, công trình công cộng đến năm 2024, Trung tâm Nghiên cứu đô thị và phát triển, toàn thành phố có hơn 1.770 đường mang tên tạm và khoảng 400 tên đường “có vấn đề” (không có ý nghĩa, trùng, tên khác nhau của cùng một nhân vật), trong khi đó quỹ tên đường của thành phố đang cạn.

Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều đường ghi sai tên danh nhân như: Đoàn Như Hài (đúng là Đoàn Nhữ Hài), Hà Tôn Quyền (đúng là Hà Tông Quyền), Nơ Trang Long (đúng là N’Trang Lơng), Trần Khắc Chân (đúng phải là Trần Khát Chân)…

Ngoài ra, gần 50 đường mang các tên khác nhau của 16 nhân vật như Trần Hưng Đạo – Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ – Quang Trung, Học Lạc – Nguyễn Văn Lạc… Hàng trăm tên đường trùng nhau như Cao Thắng, An Dương Vương… hoặc tên đường không mang tính thẩm mỹ như hai đường Kênh Nước Đen.

Trung Sơn

Bão Được Đặt Tên Như Thế Nào?

Các cơn bão nhiệt đới được đặt tên từ đầu thế kỷ 20, tạo thuận lợi cho việc liên lạc giữa các nhà dự báo thời tiết và công chúng trong việc theo dõi và cảnh báo, tránh nhầm lẫn giữa các cơn bão.

Người ta cho rằng tên của các bão lần đầu tiên xuất hiện là do một nhà dự báo thời tiết của Australia. Ông đặt tên bão theo tên “của những chính trị gia mà ông ghét nhất.

Trong Thế chiến II, các cơn bão nhiệt đới ở Thái Bình Dương được đặt tên không chính thức theo tên của phụ nữ. Nguyên tắc bất thành văn này do đoàn dự báo thời tiết của Lục và Hải quân Mỹ đề ra, và thường lấy tên vợ hoặc bạn gái của các nhà dự báo. Từ năm 1950 đến 1952, các cơn bão ở bắc Đại tây dương được đặt tên theo thứ tự bảng chữ cái (Able-Baker-Charlie- …), nhưng từ năm 1953, cơ quan khí tượng Mỹ lại chuyển sang dùng hệ tên phụ nữ.

Năm 1979, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Cơ quan khí tượng Mỹ (NWS) thống nhất sử dụng tên bão gồm cả tên nữ và nam giới.

Các cơn bão ở lòng chảo đông bắc Thái Bình Dương được đặt theo tên phụ nữ từ năm 1959-1960. Năm 1978, cả hai loại tên đều được sử dụng. Ở vùng bắc Ấn Độ Dương, các bão nhiệt đới không được đặt tên. Tại tây nam Ấn Độ Dương, bão lần đầu có tên vào mùa 1960-61. Vùng Australia và nam Thái Bình Dương, tên phụ nữ được lấy làm tên bão từ năm 1964, và 10 năm sau thì tên của nam cũng được dùng.

Từ ngày 1/1/2000, các cơn bão ở lòng chảo tây bắc Thái Bình Dương (khu vực mà Việt Nam nằm trong) được đặt theo một danh sách các tên mới lạ. Những tên mới bổ sung bao gồm các tên châu Á, được lấy từ các nước và vùng lãnh thổ là thành viên của WMO trong khu vực. Mỗi trong số 14 thành viên cung cấp 10 cái tên, tạo thành danh sách 140 tên bão.

Những tên này có hai điều khác biệt so với tên bão ở các nơi trên thế giới. Thứ nhất, hầu hết chúng không phải là tên riêng của người, mà thường là tên hoa, động vật, chim, cây cỏ hay thậm chí tên món ăn. Thứ hai, các tên này không được đặt tuần tự theo thứ tự chữ cái, mà theo thứ tự chữ cái của tên các nước.

Các cơn bão đang hình thành ở khu vực này sẽ được Trung tâm Bão nhiệt đới Tokyo thuộc Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đặt tên.

Trước bão Damrey (VN gọi là bão số 7), cơn bão Saola, lấy tên của một loài động vật quý hiếm của Việt Nam, đã tràn vào Nhật Bản.

(Nguồn: Atlantic Oceanographic and Meteorological Laboratory)T. Huyền

Big Ben Được Đặt Tên Như Thế Nào?

Nguồn: ” How did Big Ben get its name?”, History, 25/01/2024

Big Ben là một trong những điểm mốc mang tính biểu tượng – và bị nhầm lẫn – nhiều nhất trên thế giới. Tên gọi của biểu tượng này ban đầu không phải dành cho ngọn tháp đồng hồ có độ cao 320 foot (97,5m) ở phía bắc của Tòa nhà Quốc hội Anh, vốn đã được đổi tên thành Tháp Elizabeth để tôn vinh Nữ hoàng Elizabeth II vào lễ kỷ niệm kim cương (60 năm) của bà vào năm 2012, mà để chỉ chiếc chuông nặng 13 tấn nằm bên trong ngọn tháp đó vốn vẫn đều đặn gõ chuông mỗi giờ.

Phiên bản đầu tiên của Big Ben được đúc cho ngọn tháp đã được chuyển tới London vào năm 1856, nhưng nó đã bị nứt trước khi được treo lên. Một chiếc chuông thứ hai, nhẹ hơn, đã được treo lên tháp chuông vào tháng 10/1858. Được gõ từ bên ngoài bằng một cái búa thay vì phải đung đưa và được gõ từ bên trong bởi một quả lắc chuông, tiếng chuông Big Ben đầu tiên vang lên vào ngày 11/7/1859. Tuy nhiên, hai tháng sau, chiếc búa chuông nặng nề đã làm nứt chuông, và Big Ben im tiếng trong bốn năm sau đó cho đến khi nó được xoay và một chiếc búa nhẹ hơn được dùng để đánh khẽ hơn lên một điểm khác trên chiếc chuông.

Trong khi một vài người đặt giả thuyết tên gọi của quả chuông khổng lồ xuất phát từ một đô vật hạng nặng người Anh vào thế kỷ 19 có biệt hiệu “Big Ben” – nhà vô địch đấm bốc không găng Ben Caunt – thì nhiều khả năng quả chuông được đặt theo tên của Sir Benjamin Hall, một kỹ sư xây dựng người xứ Wales, người từng là thành viên của Hạ viện trong gần ba thập niên. Là Ủy viên thứ nhất của Ủy ban Công chính, Hall đã giám sát các giai đoạn sau của việc xây dựng lại Tòa nhà Quốc hội sau một vụ cháy gây tàn phá vào năm 1834, và tên của ông được khắc lên quả chuông treo trên tháp đồng hồ.

Lịch sử và những thông tin thú vị về Big Ben. Nguồn: chúng tôi

Một bài báo của tờ Thời báo London ngày 22/10/1856 khẳng định thêm lý thuyết này. “Chúng tôi tin rằng mọi quả chuông đều được đặt tên thánh trước khi được rung lên”, tờ báo này đã đưa tin khi quả chuông đầu tiên được đưa tới Quốc hội, “và trong dịp này, người ta đề nghị hãy gọi ‘quả chuông chúa’ này là ‘Big Ben’ để vinh danh Sir Benjamin Hall, chủ tịch Ủy ban Công chính, bởi quả chuông đã được đúc trong thời gian tại nhiệm của ông.”

Ý Nghĩa Của Việc Đặt Tên Những Con Đường Ở Sài Gòn Trước 1975

Nhà văn Thuần Phong Ngô Văn Phát và việc đặt tên đường phố Sài Gòn

Trong những năm làm việc tại Tòa Đô Chánh Sài Gòn, tôi có dịp góp phần trông coi việc xây dựng và tu bổ đường xá, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Sài Gòn Tây (Chợ Lớn) gồm 6 quận 5, 6, 7, 8, 10 và 11, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Sài Gòn Đông (Sài Gòn) gồm 5 quận 1, 2, 3, 4 và 9. Hàng ngày họp với các ông cai lục lộ phụ trách từng khu vực, nghe báo cáo đường thì ngập nước sau cơn mưa, đường thì có ổ gà, nhựa đường tróc hết trơ lớp đá xanh đá đỏ nền đường, đường thì dân xây cất trên lộ giới tràn ra lề đường, nên tôi gần như thuộc lòng tên hơn 300 con đường.

Qua bao nhiêu năm lịch sử của thành phố, hầu hết đều có tên Tây như:

Boulevard Charner

Boulevard Galliéni

Boulevard Kitchener

Boulevard Norodom v.v

Sau hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 chính quyền Pháp bàn giao cho Chính Phủ Bảo Đại, với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Để đánh dấu việc giành độc lập từ tay người Pháp, Toà Đô Chánh Sài Gòn được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ tên đường từ tên Pháp qua tên Việt trong khoảng thời gian ngắn nhất. Trong lịch sử của các thành phố có bao nhiêu lần đổi tên hàng loạt toàn bộ các con đường như thế này? Có lẽ vô cùng hiếm hoi.

Đại lộ Trần Hưng Đạo, Sài Gòn năm 1967 (Ảnh của John Beck)

Việc đối chiếu tên các danh nhân trong lịch sử 4000 năm để đặt tên đường sao cho hợp lý không phải dễ. Chỉ nghĩ đơn thuần, khi dùng tên Vua “Trần Nhân Tôn” và Tướng “Trần Hưng Đạo”, người làm dưới trướng của Vua, để đặt tên cho 2 con đường thì đường nào to và quan trọng hơn? Câu hỏi nhỏ như vậy còn thấy không đơn giản, huống chi cân nhắc cho ngần ấy con đường trong một thời gian gấp rút thật không dễ.

Lúc bấy giờ công việc này được giao cho Ty Kỹ Thuật mà Phòng Hoạ Đồ là phần hành trực tiếp. May mắn thay cho thành phố có được nhà văn Ngô Văn Phát**, bút hiệu Thuần Phong, có bằng Cán Sự Điền Điạ lúc ấy đang giữ chức Trưởng Phòng Hoạ Đồ.

Thuần Phong Ngô Văn Phát hình phụ bản Như Việt Lưu

Năm 1956, sau hơn ba tháng nghiên cứu, ông đã đệ trình lên Hội Đồng Đô Thành, và toàn bộ danh sách tên đường ấy đã được chấp thuận. Khi tôi vô làm năm 1965 và hàng ngày lái xe đi công trường, đụng chạm với các con đường mới cảm nhận được sự uyên bác về lịch sử của ông. Nhìn những tên đường trên họa đồ, khu nào thuộc trung tâm thành phố, khu nào thuộc ngoại ô, đường nào tên gì và vị trí gắn bó với nhau, càng suy nghĩ càng hiểu được cái dụng ý sâu xa của tác giả.

Các đường được đặt tên với sự suy nghĩ rất lớp lang mạch lạc với sự cân nhắc đánh giá bao gồm cả công trạng từng anh hùng một lại phù hợp với địa thế, và các dinh thự đã có sẵn từ trước. Tác giả đã cố gắng đem cái nhìn vừa tổng quát lại vừa chi tiết, những khía cạnh vừa tình vừa lý, đôi khi chen lẫn tính hài hước, vào việc đặt tên hiếm có này. Tôi xin kể ra đây vài thí dụ, theo sự suy đoán riêng của mình, bởi vì ông có nói ra đâu, nhưng tôi thấy rõ ràng là ông có ý ấy:

Đầu tiên là những con đường mang những lý tưởng cao đẹp mà toàn dân hằng ao ước: Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Cộng Hoà, Thống Nhất. Những con đường hoặc công trường này đã nằm ở những vị trí thích hợp nhất.

Đường đi ngang qua Bộ Y Tế thì có tên nào xứng hơn là Hồng Thập Tự.

Đường de Lattre de Tassigny chạy từ phi trường Tân Sơn Nhất đến bến Chương Dương đã được đổi tên là Công Lý, phải chăng vì đi ngang qua Pháp Đình Sài Gòn. Con đường dài và đẹp rất xứng đáng. Ba đường Tự Do, Công Lý và Thống Nhất giao kết với nhau nằm sát bên nhau bên cạnh dinh Độc Lập.

Đại Lộ Nguyễn Huệ nằm giữa trung tâm Sài Gòn nối từ Toà Đô Chánh đến bến Bạch Đằng rất xứng đáng cho vị anh hùng đã dùng chiến thuật thần tốc phá tan hơn 20 vạn quân Thanh. Đại Lộ này cũng ngắn tương xứng với cuộc đời ngắn ngủi của ngài.

Những danh nhân có liên hệ với nhau thường được xếp gần nhau như Đại Lộ Nguyễn Thái Học với đường Cô Giang và đường Cô Bắc, cả ba là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Hoặc đường Phan Thanh Giản với đường Phan Liêm và đường Phan Ngữ, Phan Liêm và Phan Ngữ là con, đã tiếp tục sự nghiệp chống Pháp sau khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết.

Những đại lộ dài nhất được đặt tên cho các anh hùng Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi và Hai Bà Trưng. Mỗi đường rộng và dài tương xứng với công dựng nước giữ nước của các ngài.

Đại lộ Lê Lợi, Sài Gòn năm 1967 (Ảnh của John Beck)

Đường mang tên Lê Lai, người chịu chết thay cho Lê Lợi thì nhỏ và ngắn hơn nằm cận kề với đại lộ Lê Lợi.

Đường Khổng Tử và Trang Tử trong Chợ Lớn với đa số cư dân là người Hoa.

Bờ sông Sài Gòn được chia ra ba đoạn, đặt cho các tên Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, và Bến Hàm Tử, ghi nhớ những trận thuỷ chiến lẫy lừng trong lịch sử chống quân Mông Cổ, chống Nhà Nguyên của Hưng Đạo Đại Vương vào thế kỷ 13.

Cụ Nguyễn Du, mà thầy đồ Thiệp, người dạy học vỡ lòng cho tôi, khi nói chuyện với cha tôi, bao giờ cũng gọi với danh xưng Cụ Thánh Tiên Điền. Cuốn truyện Kiều của cụ ngày nay được chúng ta dùng như là khuôn mẫu cho tiếng Việt, khi có sự tranh luận về danh từ hay văn phạm, người ta thường trích một câu Kiều làm bằng. Vậy phải tìm đường nào đặt tên cho xứng? Tôi thấy con đường vừa dài vừa có nhiều biệt thự đẹp, với hai hàng cây rợp bóng quanh năm, lại đi ngang qua công viên đẹp nhất Sài Gòn, vườn Bờ Rô, và đi ngang qua Dinh Độc Lập, thì quá xứng đáng. Không có đường nào thích hợp hơn. Tuyệt! Vườn Bờ Rô cũng được đổi tên thành Vườn Tao Đàn làm cho đường Nguyễn Du càng thêm cao sang.

Vua Lê Thánh Tôn, người lập ra Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, cũng cho mang tên một con đường ở địa thế rất quan trọng, đi ngang qua một công viên góc đường Tự Do, và đi trước mặt Toà Đô Chánh.

Trường nữ Trung Học Gia Long lớn nhất Sài Gòn thì, (trớ trêu thay?), lại mang tên ông vua sáng lập nhà Nguyễn. Trường nữ mà lại mang tên nam giới! Có lẽ nhà văn Thuần Phong muốn làm một chút gì cho trường nữ Trung Học công lập lớn nhất thủ đô có thêm nữ tính, nên đã đặt tên hai đường song song nhau cặp kè hai bên trường bằng tên của hai nữ sĩ: Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm. Chùa Xá Lợi nằm trên đường Bà Huyện Thanh Quan thấy cũng nhẹ nhàng.

Thẳng góc với hai đường Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm là đường Hồ Xuân Hương. Ba nữ sĩ nằm bên cạnh nhau, thật là có lý, nhưng có lý hơn nữa có lẽ là đường Hồ Xuân Hương đi ngang qua bệnh viện Da Liễu. Tác giả những câu thơ “Vành ra ba góc da còn thiếu, Khép lại hai bên thịt vẫn thừa” mà cho mang tên đường có bệnh viện Da Liễu có lẽ cũng xứng hợp.

Ông Nhà Văn – Trưởng Phòng Họa Đồ quả là sâu sắc.

Rất tiếc là lúc vào làm việc thì Thuần Phong Ngô Văn Phát đã về hưu nên tôi không được hân hạnh gặp mặt. Mãi sau này mới có dịp đọc tiểu sử của ông, mới hết thắc mắc làm sao chỉ là một công chức như tôi mà ông đã làm được việc quá xuất sắc và hi hữu này.

Cũng chuyện đặt tên đường

Vua Lê Thánh Tôn đã mở mang bờ cõi nước ta từ Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Rồi sau đó, chúa Nguyễn Hoàng và con cháu đã vượt đèo Cù Mông, đánh chiếm Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, vĩnh viễn xóa sổ nước Chiêm Thành khỏi bản đồ thế giới. Rồi còn tiếp tục mang về cho dân tộc cả một đồng bằng Nam Phần mênh mông bao la, từ Đồng Nai đến Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên, Phú Quốc…

Cũng phải kể luôn cả “Hoàng Triều Cương Thổ” (vùng đất mà thực dân Pháp dành riêng cho các vua nhà Nguyễn) là vùng Cao nguyên Trung phần trù phú màu mỡ hiện nay. Dĩ nhiên công cuộc mở mang bờ cõi này cũng bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa nữa.

Nghĩa là hơn một nửa diện tích đất liền của Việt Nam hiện nay là do dòng họ của Chúa Nguyễn Hoàng đã mang về cho dân tộc Việt Nam!

Riêng Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, là người đã có công rất lớn trong công cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt là Chúa Hiền Vương đã đóng góp rất nhiều công sức trong việc bình định và chinh phục vùng đất Gia Định ngày xưa. Gia định ngày xưa bao gồm Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu, Tây Ninh, Phước Long, Bình Long, Long An, Mỹ Tho, Gia Định, Sài Gòn… bây giờ. Cho nên chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lấy tên của Ngài để đặt cho một trong hai con đường chính từ hướng Bắc dẫn vào trung tâm Thành Phố Sài Gòn. (Chế độ sau này đã thay Hiền Vương bằng tên của Võ Thị Sáu – Đường Nguyễn Hoàng bị đổi thành Trần Phú…).

Đấy là chưa nói tới giấc mộng… Tây Tiến chưa thành. Hai vị trung thần nhà Nguyễn là Lê Văn Duyệt và Trương Minh Giảng đã mở mang bờ cõi nước ta tới tận biên giới… Thái Lan bây giờ, đã thiết lập thêm một Trấn mới là Trấn Tây Thành, (hai Trấn kia là Trấn Bắc Thành và Trấn Gia Định Thành). Phải chăng chính vì vậy mà ngay từ khi vừa giành được chủ quyền từ tay thực dân Pháp, hai con đường lớn từ trung tâm Sài Gòn hướng về Bà Quẹo để sang thẳng đất Miên qua ngả Gò Dầu, đã được mang tên hai vị Anh Hùng Tây Tiến nổi danh này. Đó là đường Trương Minh Giảng và đường Lê Văn Duyệt. Phải chăng đó cũng như là một nhắc nhở cho các thế hệ mai sau về một sứ mạng chưa thành, một “Mission unaccomplished”…

Vũ Linh Châu và Nguyễn Văn Luân Đăng lại có chỉnh sửa từ bài viết “Ai đã đặt tên cho các đường phố Sài Gòn trước 1975?” Theo chúng tôi (Trang web của nhóm cựu học sinh trường trung học Tống Phước Hiệp – Vĩnh Long)

Tiểu sử nhà văn Ngô Văn Phát:

Nhà văn, nhà họa đồ Ngô Văn Phát, bút hiệu Thuần Phong, Tố Phang, Đồ Mơ, sinh ngày 16-10-1910 tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Thuở nhỏ ông học ở Bạc Liêu, Sài Gòn, đậu bằng Thành Chung rồi nhập ngạch họa đồ ngành công chánh. Ông ham thích văn chương từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, từng có thơ đăng trên Phụ Nữ Tân Văn, họa mười hai bài Thập Thủ Liên Hoàn của Thương Tân Thị… Có lúc ông dạy Việt Văn tại trường Pétrus ký Sài Gòn.

Năm 1957 ông có bài đăng trên bộ Tự điển Encyclopedia – Britannica ở Luân Đôn (Anh Quốc). Đó là chuyên đề Khảo cứu về thành phố Sài Gòn.

Năm 1964 chuyên đề Ca dao giảng luận in trên tạp chí Trường Viễn đông Bác cổ ở Paris (sau in thành sách ở Sài Gòn). Cùng năm này Trường Cao học Sorbonne (Paris), ông cũng có chuyên đề Nguyễn Du et la métrique populaire (Nguyễn Du với thể dân ca) trong bộ sách nhan đề: Mélanges sur Nguyen Du (Tạp luận về Nguyễn Du).

Những năm 70 ông được mời giảng môn Văn học dân gian tại Đại học Văn khoa, Sư phạm Huế và Cần Thơ.

Ông mất trong năm 1983 tại Sài Gòn.

Rượu Vang Được Đặt Tên Như Thế Nào?

1.Thế giới mới Phần lớn ở các vùng rượu vang của Thế giới mới( rượu vang Chile), các nhà sản xuất rượu vang chọn cách đặt tên theo tên giống nho duy nhất hoặc giống nho chính đã tạo ra thành phẩm rượu vang. Nói một cách đơn giản hơn, rượu vang được đặt tên bằng tên giống nho. Chẳng hạn dòng rượu vang Chile , nếu nho Cabernet Sauvignon được sử dụng để sản xuất rượu vang thì được gọi là rượu vang Cabernet Sauvignon. Thậm chí vẫn được gọi là rượu vang Cabernet Sauvignon dù rượu vang được sản xuất không phải từ 100% nho Cabernet Sauvignon mà chỉ sử dụng 70% nho Cabernet Sauvignon và 30% các loại nho khác do nho Cabernet Sauvignon vẫn chiếm đa số trong thành phần.

2.Thế giới cũ Các loại rượu vang được sản xuất ở Thế giới cũ( rượu vang Chile) thường được đặt tên theo vùng sản xuất rượu vang. Rượu vang Chile – cùng một loại rượu vang được sản xuất ở vùng Maipo Valley của Chile chứa 70% nho Cabernet Sauvignon, được đặt tên là rượu vang Cabernet Sauvignon ở Thế giới mới, khi được sản xuất ở Thế giới cũ, được gọi là rượu vang Maipo Valley. Lý do các nhà máy rượu vang ở Thế giới cũ đặt tên theo vùng vì họ có xu hướng cảm thấy yếu tố lãnh thổ – nơi trồng nho có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nho – theo đó mặt trời, mặt trăng, đất, mưa và khí hậu đều tác động đến rượu vang thành phẩm. Khi rượu vang thực sự được làm tốt, bạn có thể cảm nhận được mùi vị lãnh thổ và đặc tính riêng của nho trong rượu vang. Họ tin rằng nho Cabernet Sauvignon từ vùng Maipo Valley của Chile sẽ có hương vị rất khác với nho Cabernet Sauvignon trồng ở Ý, và do đó tên khu vực nên được sử dụng cho tên của rượu vang thay vì tên giống nho.

Cơ Bắp Được Đặt Tên Như Thế Nào

Việc hiểu được cách thức người ta đặt tên cho các cơ bắp sẽ giúp cho bạn rất nhiều trong việc nhớ và hình dung chức năng các cơ bắp này, cùng tôi tìm hiểu về cách cơ bắp được đặt tên như thế nào BẠN GẶP KHÓ KHĂN TRONG VIỆC NHỚ ĐƯỢC TÊN CÁC CƠ BẮP

Cơ bắp được đặt tên như thế nào

Các cơ xương được đặt tên dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, các yếu tố thường được sử dụng trong việc đặt tên cho cơ bắp là vị trí, nguyên ủy và bám tận, số lượng nguyên ủy, hình dáng, kích thước, hướng và chức năng của chúng:

1. Vị trí: nhiều cơ bắp được đặt tên dựa trên vị trí của chúng trên cơ thể. Chẳng hạn cơ rectus abdominis (thẳng bụng) hay transverse abdominis (cơ ngang bụng) là các cơ nằm ở vùng bụng (tiếng anh là abdominal). 1 số cơ bắp như tibialis anterior (cơ trước cẳng chân), được đặt tên theo phần của xương mà chúng bám vào (phía trước của xương chày). Các cơ bắp khác lại kết hợp từ hai cách, như cơ brachioradialis (cơ ngửa dài) được đặt tên theo vị trí (brachial nghĩa là cánh tay) và 1 xương (radius là xương quay cẳng tay).

2. Nguyên ủy và bám tận: 1 số cơ bắp được đặt tên dựa trên điểm bám của nó với xương đứng yên (nguyên ủy) và xương di chuyển (bám tận). Bạn có thể nhận diện các cơ này rất dễ dàng khi đã thuộc tên các xương mà chúng bám vào. Ví dụ cơ bắp thuộc cách đặt tên này gồm có sternocleidomastoid (kết nối sternum – xương ức – và clavicle – xương đòn – với mastoid process – xương chũm của hộp sọ) và cơ occipitofrontalis (kết nối occipital bone – xương chẩm – và frontal bone – xương trán)

3. Số lượng nguyên ủy: 1 số cơ bắp có điểm bám với nhiều hơn 1 xương hay nhiều điểm trên 1 xương, do đó có nhiều hơn 1 nguyên ủy. 1 cơ bắp với hai nguyên ủy được gọi là biceps. 1 cơ bắp với ba nguyên ủy được gọi là triceps. Và cuối cùng, 1 cơ bắp với bốn nguyên ủy được gọi là quadriceps.

4. Hình dạng, kích thước và hướng: cúng ta cũng có thể phân loại cơ bắp theo hình dáng. Ví dụ, deltoids (cơ vai) có dạng hình tam giác. Cơ serratus có hình răng cưa. Cơ rhomboid có dạng hình thoi (rhombus). Kích thước của 1 cơ bắp cũng có thể được sử dụng để phân biệt hai cơ bắp tại cùng 1 vùng. Vùng mông có ba cơ bắp khác nhau về kích thước – cơ gluteus maximus (lớn), gluteus medius (nhỡ), and gluteus minimus (nhỏ). Cuối cùng, hướng mà sợi cơ chạy có thể được sử dụng để gọi tên 1 cơ bắp. Ở vùng bụng, chúng ta có nhiều cặp cơ rộng, phẳng. Cơ bắp có sợi cơ chạy thẳng lên trên và xuống dưới là rectus abdominis, cơ bắp có các sợi chạy ngang (từ trái sang phải) là transverse abdominis, cơ có các sợi chạy chéo là oblique.

5. Chức năng: cơ bắp còn được đặt tên dựa trên chức năng chúng thực hiện. Đa số các cơ bắp ở cẳng tay được đặt tên dựa trên chức năng của chúng do chúng cùng nằm trên 1 vùng và có hình dạng, kích thước tương đồng nhau. Ví dụ, nhóm cơ flexor của cẳng tay giúp gập cổ tay và các ngón tay. Supinator là cơ bắp giúp xoay ngửa cổ tay để lật lòng bàn tay lên. Ở chân chúng ta có các cơ được gọi là adductors với chức năng kéo hai chân lại gần nhau.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tên Đường Ở Sài Gòn Xưa Được Đặt Như Thế Nào trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!