Xu Hướng 2/2024 # Tổng Quan Về Vi Khuẩn # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tổng Quan Về Vi Khuẩn được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nhuộm phổ biến nhất đối với việc nhận diện vi khuẩn nói chung là nhuộm gram Vi khuẩn Gram dương giữ lại thuốc nhuộm tinh thể màu tím (có màu xanh đậm) sau khi cố định bằng iod, khử màu bằng cồn và nhuộm tương phản bằng safranin;vi khuẩn gram âm, không bắt thuốc nhuộm màu tím, thể hiện màu đỏ. Các vi khuẩn Gram âm có một màng ngoài bổ sung chứa lipopolysaccharide (endotoxin), làm tăng độc tính của chúng (Đối với các yếu tố khác làm tăng tính gây bệnh của vi khuẩn, xem Các yếu tố tạo thuận lợi cho sự xâm nhập của vi khuẩn Các yếu tố tạo thuận lợi cho sự xâm nhập của vi khuẩn Sự xâm nhập của vi khuẩn có thể được tạo điều kiện bằng cách sau: Các yếu tố độc lực Sự bám dính của vi khuẩn Đề kháng kháng sinh Khiếm khuyết trong cơ chế bảo vệ của vật chủ .)

Những Kiến Thức Cơ Bản Về Vi Khuẩn

Những kiến thức cơ bản về vi khuẩn

 

Những kiến thức cơ bản về vi khuẩn  

1. Khái niệm vi khuẩn Vi sinh vật (micro-organism) bao gồm vi khuẩn và virus, nhưng vi khuẩn có đầy đủ đặc điểm của một vi sinh vật như khả năng tự tổng hợp chất dinh dưỡng để phát triển và nhân lên. Vi khuẩn là nhóm vi sinh vật có cấu tạo tế bào nhưng chưa có cấu trúc nhân phức tạp. Trên thực tế, vi khuẩn là những đơn bào không có màng nhân, thuộc nhóm Procaryote, có thể quan sát được bằng kính hiển vi. Nhân tế bào chỉ gồm một chuỗi AND không có thành phần protein không có màng nhân. 2. Hình thể, kích thước và cấu trúc vi khuẩn Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào, chúng có cấu trúc và hoạt động đơn giản hơn nhiều so với các tế bào có màng nhân (eucaryote). Tuy nhiên có một vài cơ quan như vách tế bào hay chức năng di truyền và sự vận chuyển di truyền phức tạp không kém sinh vật phát triển. –  Hình thể và kích thước vi khuẩn Mỗi loại vi khuẩn có hình dạng và kích thước nhất định, do vách của tế bào vi khuẩn quyết định. Hình thể và kích thước của vi khuẩn có thể quan sát và xác định được bằng phương pháp nhuộm và quan sát bằng kính hiển vi. Để xác định vi khuẩn, hình thể là một tiêu chuẩn rất quan trọng đóng vai trò định hướng, để định loại một vi khuẩn còn phải kết hợp với với các yếu tố khác như tính chất sinh vật hoá học, kháng nguyên của vi khuẩn và khả năng gây bệnh). Tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định, dựa vào hình thể vi khuẩn kết hợp với lâm sàng người ta có thể chẩn đoán xác định bệnh. Vi khuẩn có nhiều hình thái khác nhau: hình cầu, hình que, hình xoắn, hình dấu phẩy, hình sợi…. Kích thước thay đổi tùy theo các loại hình và trong một loại hình kích thước cũng khác nhau. So với virus, kích thước của vi khuẩn lớn hơn nhiều, có thể quan sát vi khuẩn dưới kính hiển vi quang học.  Đơn vị đo kích thước của vi khuẩn là micromet (1 µm = 1/1000 mm). Kích thước và hình thể của các loại vi khuẩn khác nhau thì không giống nhau và có thể còn phụ thuộc vào điều kiện tồn tại của chúng. Dựa vào hình thể, vi khuẩn được chia ra làm 3 loại lớn. –  Các cầu khuẩn: Cầu khuẩn là những vi khuẩn có hình cầu, nhưng cũng có thể là hình bầu dục hoặc ngọn nến, có đường kính trung bình khoảng 1 µm. Cầu khuẩn được chia thành một số loại sau: 

+ Song cầu (Diplococci) là những cầu khuẩn đứng thành từng đôi như phế cầu (Streptococcus pneunoniae), lậu cầu (Neisseria gonorrhoeae) và não mô cầu (Neisseria meningitidis – Meningococcus). Nếu có nhiều đôi nối đuôi nhau chúng sẽ tạo thành chuỗi.

+ Liên cầu (Streptococci) là những cầu khuẩn đứng thành chuỗi.

+ Tụ cầu (Staphylococci) là những cầu khuẩn đứng thành từng đám như chùm nho như tụ cầu vàng.

 

Theo Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

Tổng Quan Về Hồng Trà (Blacktea Hay Là Trà Đen)

Hồng Trà (tiếng anh được gọi là BlackTea) trong quá trình sao chế có xảy ra phản ứng oxy hóa enzym ponyphenol ( Trong lá cà có 2 nhóm Enzym quan trọng đó là nhóm Enzym Oxi hóa khử và nhóm Enzym thủy phân, còn những nhóm khác tồn tại với số lượng không đáng kể. Một số nhóm Enzym Oxi hóa có vai trò quan trọng trong chế biến trà, dưới tác dụng của Polyphenol – Oxydaza, sản phẩm là thearubingin và các cấu tử tạo màu sắc và hương vị trà.). Thành phần hóa học có trong lá trà tươi thay đổi tương đối lớn, trà nhiều Polyphenol giảm đến 90 %, sinh ra nguyên tố kim loại trong trà.

Hồng Trà thuộc loại trà lên men, nguyên liệu chính để làm Hồng Trà đó là được làm từ những búp trà non, trải qua một loạt các công đoạn phức tạp và cầu kỳ như làm héo, vê nhào ( hoặc cắt ), lên men, hong khô mà thành trà.

Công đoạn thu hái chính là khâu đầu tiên, vô cùng quan trọng trong công nghệ chế biến Hồng Trà. Hồng Trà trong thời kỳ đầu chế biến được gọi là “Ô Trà”, do Hồng Trà sau khi được làm khô, sau đó được đem pha hãm trà thì nước và bã trà dưới đáy hiện ra màu đỏ, chính vì thế mà đã thành tên là Hồng Trà. Hồng Trà của Trung Quốc có những loại chủ yếu như : Nhật Chiếu Hồng Trà, Kì Hồng, Chiêu Bình Hồng, Hoắc Hồng, Điền Hồng, Việt Hồng, Tuyền THành Hồng, Tuyền Thành Lục, Tô Hồng, Xuyên Hồng, Anh Hồng, Đông Giang Sở Vân Tiên Hồng Trà, Vũ Di Kì Môn Hồng Trà là trứ danh bậc nhất. Năm 2013 Hồng Trà Sở Vân Tiên Đồng Giang Hồ Nam đạt danh hiệu “Trung Trà Bôi”

Hồng Trà bắt nguồn từ Trung Quốc, và được phát minh ra tại khu vực núi Vũ Di Phúc Kiến, trong thời kỳ nhà minh, với tên gọi là “Chính Sơn Tiểu Chủng”. Gia tộc Giang Thị tại Vũ Di Sơn, thôn Đồng Mộc chính là thế gia sản xuất lá trà đã sản xuất ra Chính Sơn Tiểu Chủng Hồng Trà, đến nay đã có lịch sử trên 400 năm.

Chính Sơn Tiểu Chủng Hồng Trà đã được du nhập vào Châu Âu năm 1610. Năm 1662, khi công chúa Catherine của Bồ Đào Nha kết hôn với vua Charles II, trong của hồi môn của bà có chứa rất nhiều hộp trà Trung Quốc, từ đó Hồng Trà được đưa vào tòa án Anh. Trong thị trường chè đầu tiên ở London, chỉ có Hồng Trà mới được bán và được bán giá cao bất thường, thông thường chỉ có những người giàu có tầng lớp thượng lưu mới uống được, và Chính Sơn Tiểu Chủng Hồng Trà đã trở thành đồ uống không thể thiếu trong xã hội thượng lưu của Anh. Người Anh yêu Hồng Trà, và dần dần biến đổi Hồng Trà thành một nền văn hóa Hồng Trà cao quý, cũng như quảng bá ra toàn thế giới.

Vì Hồng Trà được mua tại Hạ Môn, đây là loại trà Vũ Di bán lên men, từ đây Trà Vũ Di đã du nhập vào Anh với số lượng lớn, thay thế dần cho thị trường trà xanh trước đó, và nhanh chóng trở thành dòng trà chính của Tây Âu. Trà Vũ Di màu đen được gọi là Black Tea, sau đó các nhà khoa học phân loại phương pháp sản xuất Trà theo đặc điểm của Trà, Trà Vũ Di sau khi ngâm hãm có nước và bã màu đỏ, tố chất thuộc dòng Hồng Trà. Tuy nhiên tên gọi thông thường của người anh là “Black Tea” được dùng để đề cập Trà Đen thay vì Hồng Trà.

Hồng Trà được sản xuất chủ yếu ở : Trung Quốc, Srilanca, Ấn Độ, Indonexia, Kenya

Trung Quốc : Các loại Hồng Trà Trung Quốc chủ yếu bao gồm các loại sau :

Kỳ Hồng (Trà Đỏ Kỳ Môn) : được sản xuất chủ yếu tại Kỳ Môn An Huy, Chí Đức, Phù Lương Giang Tây

Điền Hồng : Sản xuất tại Phật Hải Vân Nam, Thuận Trữ

Hoắc Hồng : Sản xuất tại Lục An An Huy Hoắc Sơn

Tô Hồng : sản xuất tại Nghi Hưng, Giang Tô

Việt Hồng : sản xuất tại Thiệu Hưng Chiết Giang

Hồ Hồng : Sản xuất tại An Hóa Hồ Nam, Tân Hóa, Đào Nguyên

Xuyên Hồng : Sản xuất tại mã Biên Tứ Xuyên, Nghi Tân, Cao Huyền

Anh Hồng : sản xuất tại Anh Đức Nghiễm Đông

Chiêu Bình Hồng : Sản xuất tại Nghiễm Tây Chiêu Bình Huyền

Trong đó đặc biệt là Kì Môn Hồng Trà nổi tiếng nhất. Trữ Hồng Công Phu sản xuất tại Vùng Tu Thủy Giang Tây Trung Quốc, là 1 trong những Công Phu Hồng Trà được sản xuất sớm nhất.

Trên Thế Giới : có rất nhiều chủng loại, nơi trồng trọt Hồng Trà cũng rất rộng, tại các nước như Ấn Độ, Đông Phi, Indonesia, Srilanca có cùng loại Hồng Trà được sản xuất

Nhiệt đới hoặc á nhiệt đới (hay còn gọi là cận nhiệt đới)

Nhiệt độ không khí cao, có đủ lượng mưa

Tính Axit trong thổ nhưỡng tốt

Thổ những có tính thoát nước tốt

Vào mùa thu hoạch Hồng Trà, thì nhiệt độ trong ngày khô, ẩm cũng ảnh hưởng đến việc chế biến ra lá trà có chất lượng tốt hay không

Tiểu Chủng Hồng Trà : là loại Hồng Trà cổ nhất, đồng thời cũng là khởi tổ của các loại Hồng Trà khác. Các loại Hồng Trà khác cũng do biến tấu từ Tiểu Chủng Hồng Trà mà ra. Tiểu Chủng Hồng Trà được phân chia thành Chính Sơn Tiểu Chủng và Ngoại Sơn Tiểu Chủng

Chính Sơn Tiểu Chủng được sản xuât tại Trấn Đồng Mộc Quan, Thôn Tinh, Thành Phố Vũ Di Sơn. Cho nên có tên gọi là “Tinh Thôn Tiểu Chủng” hoặc “Đồng Mộc Quan Tiểu Chủng”.

Ngoại Sơn Tiểu Chủng được sản xuất chủ yếu tại Phúc Kiến, Thản Dương, Cổ Điền, Sa huyền. Ngoại Sơn Tiểu Chủng đều dựa vào chất lượng của Chính Sơn Tiểu Chủng mà chế biến. năm 2013 dọc sông Giang Tay cũng có sản xuất Ngoại Sơn Tiểu Chủng.

Công Phu Hồng Trà : là sản phẩm Hồng Trà vô cùng đặc biệt, được làm từ nguyên liệu búp trà non mềm, sau khi thành phẩm có kết cấu chặt chẽ ( trà được cuốn lại một cách chặt chẽ ), kích thước đều đặn, màu sắc ô nhuận ( đen bóng ), nồng hậu, vị dịu mà ngọt nồng, màu sắc lá trà và nước trà sau khi được pha ham có màu đỏ tươi sáng ngời, mang trong mình phẩm chất đặc thù vô cùng đặc biệt.

Công Phu Hồng Trà cũng được gọi là Công Phu Trà, đây quả thực là sản phẩm Hồng Trà vô cùng đặc biệt của đất nước Trung Quốc và đây cũng là sản phẩm xuất khẩu truyền thống. Ở Trung Quốc có mười mấy tỉnh sản xuất Công Phu Hồng Trà ( bao gồm khu trồng trà chính là Tân Cương, Tây Tạng).

Công Phu Hồng Trà Trung Quốc chủng loại đa dạng, khu vực sản xuất rộng, phân theo các chuyên khu nổi danh về trông trà có Hữu Điền Hồng Công Phu, Kì Môn Công Phu, Phù Lương Công Phu, Trữ Hồng Công Phu, Nghi Hồng Công Phu, Tương Giang Công Phu, Mân Hồng Công Phu ( Hàm Thản Dương Công Phu, Bạch Lâm Công Phu, Chính Hòa Công Phu ), Việt Hồng Công Phu, Thai Loan Công Phu, Giang Tô Công Phu, Cập Việt Hồng Công Phu. Dựa theo chủng loại sản phẩm lại phân thành Đại Diệp Công Phu (lá to) và Tiểu Diệp Công Phu (lá nhỏ) …

Hồng Toái Trà : là loại trà dựa trên ngoại hình lá trà chế biến thành phẩm mà gọi tên, trà vụn, trà phiến, mạt trà. Nơi sản xuất phân bố tương đối rộng từ Vân Nam, Quảng Đông, Hải Nam, Quảng Tây chủ yếu là xuất khẩu trà

Tốc Dung Hồng Trà : là sản phẩm lá trà gia công, dùng nguyên liệu lá trà thuần tự nhiên, sử dụng công nghệ hiện đại để xay lá trà thật mịn, lá trà sau khi được hong khô thành bột trà mịn, thường sẽ được phun sương để vo thành viên ( sau đó hong khô) rồi đóng hộp. Có nhiều lúc Tốc Dung Hồng Trà bị hiểu nhầm thành Hồng Trà Trà Trân.

Mã Biên Công Phu : là sản phẩm mới trân quý của Hồng Trà, do xưởng trà Kim Tinh Mã Biên Tứ Xuyên sáng tạo ra, tuyển chọn từ nguồn nguyên liệu lá trà nhỏ Tứ Xuyên ở độ cao 1200 – 1500 trên mực nước biển, kết hợp với công nghệ Công Phu Hồng Trà của khu vực tinh chế mà thành

Hồng Trà dựa vào bộ phân cây trà, lá trà và hình thái thành phẩm để phân thành quy cách khác nhau:

Bạch Hào ( Pekoe gọi tắt là P ) : Bạch Hào

Toái Bạch Hào ( Broken Pekoe gọi tắt là BP ) : cắt vụn hoặc lá trà không hoàn chỉnh

Phiến Trà (Fannings gọi tắt là F) : lá trà có kích thước nhỏ hơn so với kích thước lá trà Toái Bạch Hào

Tiểu Chủng ( Souchong gọi tắt là S ) : Tiểu Chủng Trà

Trà Phấn ( Dust gọi tắt là D ) : Trà phấn hoặc mạt trà

4 Chủng loại Hồng Trà có tên tuổi lớn

Kỳ Môn Hồng Trà được gọi tắt là Kỳ Hồng, là sản phẩm Hồng Trà trân quý công phu truyền thống của Trung Quốc. Là loại trà nổi tiếng của lích sử, được sản xuất và cuối thể kỷ 19, là 1 trong những loại trà Cao Hương củ thế giới, nức tiếng với các danh xưng như “Trà Trung Anh Hào”, “QUần Phương Tối”, “Vương Từ Trà”. Kỳ Môn Hồng Trà dựa vào chất lượng cao thấp mà phân chia làm cấp độ từ 1 – 7, củ yếu sản xuất tại huyện Kỳ Môn, Tỉnh An Huy, cùng với các tỉnh sản xuất ít như Thạch Thai Bì Lân, Đông Chí, Y Huyền và Quý Trì. Chủ yếu xuất khẩu đến hơn mười mấy quốc gia và vùng lãnh thổ như Anh, Hà Lan, Đức, Nhật, Nga … những năm gần đây nó là món trà Quốc Lễ của Trung Quốc.

Hồng Trà Vùng Cao Tích Lan chính là lấy trà Ô Ốc là nổi danh nhất, sản xuất tại miền đông khu vực núi cao Srilanka, đây là 1 loại trà trong Tứ Đại Hồng Trà của thế giới, nơi đây quanh năm được mây mù bao phủ, bởi vì mùa đông bị ảnh hưởng của gió mùa đông bắc mang đến lượng mưa khá nhiều ( Tháng 11 – 12 ), đây là điều kiện bất lợi cho sự sinh sản của vườn trà, cho nên để trà có chất lượng tốt nhất thường thu hoạch vào tháng 7 đến tháng 9. Phía Sườn Tây bị ảnh hưởng của gió Tây Nam vào mùa hạ ( tháng 5 – 8 ), chính vì vậy mà trà Đinh Bố Lạp Trà và Nỗ Ốc Lặc Ai Lợi Da để thu được chất lượng tốt nhất thì cần phải thu hoạch vào tháng 1 – 3.

Hồng Trà Bodhisattva được sản xuất tại vùng khe núi Bodhisattva chân núi hymalaya đông bắc Ấn Độ. Khu vực này ánh mặt trời gay gắt, nên cần trồng 1 số loại cây thân cao lớn để che bớt ánh nắng cho cây trà, do lượng mưa phong phú bởi vậy mà loại trà Bodhisattva vùng nhiệt đới này phát triển vô cùng mạnh mẽ, chất lượng thu hái tốt nhất là vào khoảng tháng 6 đến tháng 7 hàng năm, nhưng trong khoảng tháng 10 – đến tháng 11 thì lại cho ra sản lượng trà tương đối thơm, nước trà có màu sắc đỏ thẫm, hơi ngả sang nâu, đồng thời có chứa mùi thơm của mạch nha nhè nhẹ và hương hoa hồng, mùi vị của trà rất đậm đà, vị đậm ( hay nói đúng hơn là vị rất mạnh )

Vò trà : Đây là khâu rất quan trọng, ban đầu người Trung Quốc thường dùng 2 chân để vò trà, sau đó 50 năm thì người ta dùng kết cấu 2 thanh gỗ và kết hợp với sức nước để vò trà, đến những năm 60 thì khâu này được cải tiến thêm một bước nữa là sử dụng mô hình bằng sắt và chạy điện, nâng cao hiệu quả về vò trà, quá trình vò trà đến khi nào nước trà chảy ra ngoài, trà đóng thành cục là được.

Lên men : quá trình để trà lên men hay còn gọi là quá trình đổ mồ hôi, là 1 phân đoạn cực kỳ quan trọng. Lá trà sau khi được vò xong, sau đó cho vào rổ, rồi được siết và ấn chặt lại, sau đó dùng vải ẩm đậy lên trên, làm gia tăng độ ẩm và nhiệt độ lên lá trà, thúc đẩy quá trình lên men, cũng như Enzym hoạt động, rút ngắn thời gian lên men. Hầu hết sau 5 đến 6 tiếng gân lá hiện màu hồng nâu.

Lập tức có thể cho lên hong khô, mục đích của việc lên men là khiến cho các hoạt chất Polyphenol trong trà bị Oxy hóa dưới tác động của Enzym, khiến cho màu xanh lá trà biến thành màu đỏ. Lên men là khâu rất quan trọng trong việc hình thành lên màu, hương và vị của Hồng Trà. Phần lớn đều cho trà đã vò nhàu vào trong thùng hoặc kho để lên men.

Hong khô : Lá trà sau khi được lên men, sẽ được rải đều lên sàng, mỗi sàng chỉ nên rải lượng từ 2 – 2,5 kg là vừa, sau đó treo sàng đó lên trên cao rồi dùng Gỗ Tùng (loại gỗ còn hơi tươi là tốt nhất) đốt để hong khô trà ( khói và nhiệt độ sẽ bay lên và làm khô trà), chính vì vậy mà Tiểu Chủng Hồng Trà cũ có hương thơm tươi mát của Gỗ Tùng, lúc sấy khô trà như vậy cần nhiệt độ lửa cao một chút, khoảng 80 °C là ổn, nhiệt độ cao có thể ngăn chặn nấm men phát triển, khiến cho men không bị cao quá, trà cũng không bị ám muội.

Hong khô lại : trà là thuộc loại dễ hấp thụ độ ẩm, trước khi đem trà bán người ta thường tiến hành ho khô lại một lần nữa, giúp cho trà lưu lại những tốt chất tốt nhất trong trà, hàm lượng nước không vượt quá 8 % là được.

Lưu Trữ : Lá trà nên được lưu giữ nơi thoáng mát, tránh nơi ẩm thấp, hoặc nhiệt độ cao, không nên cất cùng các tẩy rửa, hương liệu, xà bông … nên lưu giữ trà đơn thuần, sạch sẽ, tốt nhất là đem cất trong hộp trà, để nơi râm mát, nếu đã mở nắp thì nên dùng hét, nếu không hương và vị của trà sẽ dần dần bị hao hụt và mất đi, lá trà không cùng loại tránh nên để lẫn lộn, hay uống chung với nhau, sẽ khiến cho hương và vị bị lẫn lộn.

Lượng Trà : mỗi ấm trà chỉ nên pha từ 2 – 5 gram Hồng Trà, hoặc lựa chọn theo dung tích ấm trà hoặc số lượng người uống để pha hãm cho phù hợp.

Nhiệt độ : Nhiệt độ nước pha Hồng Trà nên sử dụng ở mứ 90 °C đến 100 °C là phù hợp, đồng thời cần tráng qua trà để khai mở trà cũng như làm để trà được sạch hơn. Đồng thời chén uống trà cũng cần phải được tráng qua nước nóng, như thế khi rót trà vào vị trà mới dậy mùi thơm được trọn vẹn.

Cảm nhận hương thơm và màu sắc

Hồng Trà sau khi pha hãm, thông thường sau 3 phút là có thể cảm nhận được hương thơm và màu sắc của nước trà., sau khi trà chín chúng ta có thẻ rót ra chén và thưởng thức, nếu như Hồng Trà là loại có búp trà nguyên bản thì đều có thể pha nhiều lần nước (ít nhất là từ 2 – 3 nước ), nhưng nếu dùng Hồng Toái Trà ( loại trà vụn ) thì sẽ chỉ 1 nước ban đầu, đến nước thứ 2 – 3 là vị đã trở nên nhạt đi rất nhiều.

Hồng Trà và giá trị dinh dưỡng

Hồng Trà có tác dụng hỗ trợ cho hệ tiêu hóa, thúc đẩy cảm giác thèm ăn, lợi tiểu, tiêu trừ phù nề, củng cố chức năng tim mạch. Trong Hồng Trà rất phong phú Hàm Lượng Flavonoid có thể trừ khử các gốc tự do, có tác dụng kháng axit, giảm nguy cơ phát bệnh nhồi máu cơ tim, trong y học Trung Quốc cho rằng trà cũng phân biệt nóng lạnh, ví dụ trà xanh thuộc tính cực lạnh, thích hợp uống và mùa hè, làm tiêu tan đi cái nóng, Hồng Trà, Trà Phổ nhĩ thiên về tính nón, thích hợp dùng làm thức uống cho mùa đông lạnh, còn trà Ô Long, Trà Thiết Quan Âm lại thuộc dòng trà Trung Tính.

Hồng Trà có thể hỗ trợ điều tiết đường huyết, nhưng vẫn chưa có những kết luận xác thực, vào ngày đông dạ dày dễ gặp phải tình trạng khó chịu, trái cây lạnh ăn nhiều cũng khiến người không thoải mái, có thể lấy Hồng Trà cho thêm ít đường đỏ, cho thêm vài lát gừng, hãm nước nóng uống lúc ấm, có tác dụng dưỡng dạ dày rất tốt, cơ thể sẽ thoải mái, nhưng kiến nghị không uống Hồng Trà lạnh.

Nâng cao tinh thần, tiêu trừ mệt mỏi

Hồng Trà có chứa hàm lượng Caffein có tác dụng kích thích đại não đến trung khu thần kinh, tạo sự hưng phấn, thúc đẩy nâng cao tinh thần, tăng sức tập trung suy nghĩ, tạo lối suy nghĩ phản ứng càng thêm mẫu tuệ sâu sắc ( suy nghĩ lanh lợi và thông minh ), trí nhớ được tăng cường, ngoài ra Hồng Trà còn có tác dụng với hệ thống mạch máu với trài tim hưng phấn, làm khỏe mạnh hệ tim mạch, do đó hệ tuần hoàn máu lấy lại sự trao đổi chất nhanh hơn, đồng thời lại thúc đẩy đổ mồ hôi, lợi tiểu. Bởi vậy hệ thống tiến hành đồng bộ và nhanh chóng, bài tiết Axit Lactic ( đây là chất khiến cơ thể cảm thấy mệt mỏi ) đạt tới mục đích tiêu trừ mệt mỏi hiệu quả.

Sinh Tân Thanh Nhiệt

Ngày hè uống Hồng Trà có thể loại bỏ đi cái nóng lực, do là trong trà có nhiều Phenolic, đường, Axiamin, Pectin, hoặc kết hợp với Enzy, sinh ra phản ứng hóa học dẫn đến khoang miệng có cảm giác được làm dịu đi, dồng thời làm ấm, cũng như sản sinh ra cảm giác mát lạnh, hơn nữa Caffein còn có tác động khống chế phân khu trung tâm nhiệt độ cơ thể, từ đó điều tiết nhiệt độ, nó cũng kích thích thận tạng thúc đẩy bài tiết nhiệt độ cùng chất cặn bã ra khỏi cơ thể, diu trì sinh lý cân bằng trong cơ thể.

Lợi Tiểu

Hồng Trà có chứa Caffein kết hợp cùng với chất Aromatic, có tác dụng tăng cường tuần hoàn máu thận tạng, nâng cao hiệu suất loại bỏ tiểu cầu, khuếch trương mao mạch thận, đồng thời ức chế tiểu quản của thân tái hấp thu nước, vì thế thúc đẩy lượng nước tiểu gia tăng. Như vậy nó có lợi cho bài trừ Axitlactic của cơ thể, Axit Uric ( đối với bệnh Gout ), có quá nhiều phân tử Cl (đối với cao huyết áp), các chất có hại cho cơ thể, cùng với bạn làm dịu bệnh tim, giảm nguy cơ phù nề, viêm thận.

Giảm nhiệt sát trùng

Hợp chất tổng hợp polyphenol có trong hồng trà có hiệu quả tiêu viêm , lại thêm trong khảo sát nhiên cứu thực nghiệm có phát hiện rằng ,các hợp chất trong cây nhi trà có thể kết hợp cùng vi khuẩn của tế bào đơn , khiến cho anbumin đông đặc lắng đọng lại , dựa vào đó mà ức chế cùng tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh . cho nên những người bị mắc bệnh lị trực khuẩn và người ngộ độc thực phẩm uống hồng trà sẽ rất có lợi. Dân gian cũng thường dùng hồng trà để xoa lên vết thương , tránh hoại tử và làm thơm chân.

giải độc

Trong Hồng trà tđích trà có chứa nhiều alkali có thể hấp thụ kim loại nặng cùng kiềm sinh vật, đồng thời cũng lắng đọng lại phân giải,điều này đối với nguồn nước uống cùng thực phẩm hiện nay đã bị công nghiệp làm cho ô nhiễm mà nói, thì nó giống như là tin mừng số 1 vậy .

Làm khỏe mạnh xương cốt

Ngày 15/3/2002 nhật bản kết hợp cùng mỹ tại hiệp hội đã phát biểu đưa ra con số điều tra trên 10 năm đối với 479 người nam giới và 540 người nữ giới , chỉ ra rằng những người sử dụng hồng trà có xương cốt khỏe hơn , trong hồng trà có hợp chất polyphenol(trong trà xanh cũng có) , có tác dụng ức chế hoạt động của các tế bào phá hoại mô xương khớp .giúp phòng những bệnh thường thấy ở nữ giới như loãng xương , kiến nghị mỗi ngày nên dùng 1 ly nhỏ hồng trà , kiên trì nhiều năm hiệu quả rõ rệt , . nếu như trong hồng trà cho thêm chanh , làm khỏe xương , hiệu quả càng tốt , trong hồng trà cũng có thể cho thêm nhiều loại nước hoa quả , có thể làm cho hiệu quả kết hợp.

kháng lão hóa

Chính nhờ phản ứng lên men mà trà đen có mùi thơm đặc biệt và lá trà có màu sậm, từ đỏ hung đến đen tuyền. Cũng nhờ hiện tượng lên men mà trà đen chứa nhiều hoạt chất có tác dụng kháng oxy hóa, đồng nghĩa với việc chống tình trạng lão hóa tế bào, chống nhờn và bổ sung chất dinh dưỡng thực vật cho cơ thể. Vì tính năng đặc biệt này mà các hãng dược phẩm, kem chống lão hóa sử dụng các chiết xuất có trong trà đen, đặc biệt là kem chống nhăn dùng cho phụ nữ.

Nuôi dưỡng và bảo vệ dạ dày

Bình thường, khi cơ thể chưa ăn uống gì mà uống trà xaanh vào sẽ có cảm giác khó chịu, không thoải mái, đây là do những chất quan trọng ẩn chứa trong lá trà, trà chứa nhiều hợp chất Phenol có khả năng làm co lại, đối với những tác dụng kích thích nhất định, lúc dạ dày trống rỗng thì càng kích thích mạnh.

Nhưng Hồng Trà thì không như vậy, bởi Hồng Trà đã trải qua quá trình lên men mà thành Hồng Trà, không những không gây hại cho dạ dày mà nó còn nuôi dưỡng dạ dày, thường xuyên uống Hồng Trà cho thêm đường, sữa … có thể tiêu viêm giảm nhiệt, bảo vệ niêm mạc dạ dày, đối với điều trị bệnh loét dạ dày cũng có hiệu quả nhất định

Những điều cấm kỵ trong Hồng Trà

Những người bị bệnh U Bướu và bị bệnh sỏi thận không nên dùng Hồng Trà

Người có chứng thiếu máu, suy nhược mất ngủ, dễ bị kích động, mẫn cảm, thân thể có sức khỏe yếu không nên uống Hồng Trà, bởi Hồng Trà có tác dụng nâng cao tinh thần, minh mẫn vì thế những ai đã bị suy nhược mất ngủ không nên sử dụng Hồng Trà, vì có thể sẽ khiến cho tình trạng càng trở nên trầm trọng.

Người bị đau dạ dày, ợ nóng không nên dùng Hồng Trà, bởi Hồng Trà có tính ôn hòa, tác dụng làm ấm dạ dày

Người sau sinh, người bị hôi miệng, người hay bị mụn, người có quầng mắt đỏ thẫm thì không nên dùng Hồng Trà, bởi Hồng Trà thuộc loại có tính nóng, những trường hợp trên là do trong cơ thể đang nóng vì vậy không nên uống.

Người đang uống thuốc cũng không nên uống Hồng Trà, bởi Hồng Trà có thể làm cho chất lượng của thuốc bị giảm sút hoặc mất tác dụng.

Nữ giới trong thời kỳ kinh nguyệt cũng không nên uống Hồng Trà, bởi trong thời gian này nữ giới sẽ mất đi 1 hàm lượng sắt rất lớn, mà trong trà có chứa Axit Tanic lại ngăn chặn khả năng hấp thụ sắt có trong thức ăn

Phụ nữ mang thai và phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh không nên uống Hồng Trà, bởi trong Hồng Trà có Caffein làm tăng nhịp tim của bà bầu, gây ra cảm giác khó chịu, bốc hỏa.

Phụ nữ trong thời kỳ cho con bú không nên uống Hồng Trà, bởi Axit Tanic trong Hồng Trà sẽ ngấm vào máu, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn sữa.

Tổng Quan Về Tên Miền Edu Và Gov Bạn Cần Biết Khi Tạo Website

Khái quát về tên miền

Trước khi tìm hiểu về 2 loại tên miền kia, chúng ta cần hiểu rõ bản chất chung tên miền là gì. Cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau nói về tên miền, chúng tôi xin tóm lược một cách dễ hiểu về tên miền như sau:

Tên miền tiếng Anh là domain, là một địa chỉ web mà khi đăng nhập vào thanh url của trình duyệt tìm kiếm giúp bạn truy cập được vào một trang web cụ thể nào đó. Tên miền có tác dụng thay thế địa chỉ IP dài, khó nhớ thành một cái tên miền (domain) tóm gọn dễ nhớ hơn. Thông thường, tên miền sẽ có 2 phần: phần tên và phần đuôi tên miền được ngăn cách nhau bởi dấu “.”

Khi truy cập website nào đó, bạn chỉ cần nhập tên miền của website đó lên công cụ tìm kiếm là có thể truy cập vào rồi mà không cần phải nhớ địa chỉ IP dài ngoằng như trên nữa. Có thể hiểu một cách đơn giản, nếu website của bạn là một ngôi nhà, thì domain chính là địa chỉ của ngôi nhà đó. Nhưng thay vì một địa chỉ dài thật dài khó nhớ thì bạn có thể gọi nó bằng một cái tên riêng biệt là A, B, C hoặc D tùy ý không trùng các địa chỉ khác.

Tìm hiểu về tên miền edu và gov

Tên miền edu và gov được coi là tên miền cấp cao chung (gTLDs). Trong đó:

Ý nghĩa tên miền edu

Tên miền .edu được ra đời từ tháng 1 năm 1985. Đây là một trong những tên miền xuất hiện sớm nhất. Trong đó, edu là chữ viết tắt của cụm danh từ “Education”, có nghĩa là giáo dục. Chúng được sử dụng cho các website của đơn vị, tổ chức, cơ sở đào tạo giáo dục trên toàn thế giới. Một cơ sở giáo dục, trung tâm Anh ngữ hay đơn vị giáo dục nào đó có sử dụng đuôi tên miền .edu chắc chắn có sự tin cậy tốt hơn cho người dùng. 

Ý nghĩa tên miền gov

Cũng như .edu, tên miền .gov cũng mang một ý nghĩa riêng của nó. Gov là chữ viết tắt của cụm “Government”, có nghĩa là chính phủ. Đây là tên miền riêng, chỉ được phép sử dụng cho các đơn vị, tổ chức và cơ quan chính phủ, cơ quan nhà nước như: Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, website Chính Phủ,…

Hậu tố của các trang web sau .gov cũng tương tự .edu, đều là hậu tố quốc gia. Chẳng hạn, chúng tôi là tên miền web cơ quan chính phủ của Việt Nam, chúng tôi là tên miền web cơ quan chính phủ Mỹ,…

Khi nào có thể sử dụng các tên miền edu và gov?

Vì là tên miền riêng cho từng đơn vị có tính chất đặc trưng, nên nếu muốn sử dụng các đuôi tên miền như edu và gov cũng cần đảm bảo có các tiêu chí nhất định.

Tên miền .edu

Với tên miền edu, bạn có thể đăng ký dễ dàng hơn mà không có nhiều quy tắc nghiêm ngặt như tên miền chính phủ. Bởi .edu được coi như một tên miền cá nhân, ai cũng có thể đăng ký được. Do đó, bạn chỉ đăng ký bình thường như khi đăng ký tên miền .com, .vn,… Tuy nhiên, nên đặt tên miền edu theo đúng lĩnh vực giáo dục để nhận diện ngành nghề kinh doanh và đối tượng khách hàng tốt hơn.

Tên miền .gov

Các cơ quan nhà nước cấp Trung ương tới Địa phương được quy định tại Luật tổ chức Quốc Hội.

Cơ quan Chính Phủ

Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân

Viện kiểm sát Nhân dân, Tòa án Nhân dân các cấp

Các đơn vị có tên trong Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính Phủ.

Việc sở hữu tên miền .gov được quy định rõ trong các văn bản ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền. Văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị đăng ký sử dụng tên miền chúng tôi Đồng thời, người chịu trách nhiệm quản lý tên miền phải là người có thẩm quyền hoặc được ủy quyền thuộc về cơ quan, đơn vị đăng ký tên miền theo quy định của pháp luật.

Hai tên miền edu và gov là những tên miền đặc thù cho lĩnh vực nhất định. Khi sử dụng, bạn cần nắm bắt, hiểu rõ về các quy định, nguyên tắc sử dụng, đặc biệt là tên miền .gov. 

Đối với các loại tên miền khác như .com, .biz, .info,… bạn cũng cần hiểu được nguyên tắc đặt tên miền cơ bản như: phạm vi ký tự, nguyên tắc đặt tên, kí tự đặc biệt, kinh phí, đơn vị mua tên miền,… 

Các Phương Pháp Cơ Bản Trong Chẩn Đoán Vi Khuẩn

Các phương pháp cơ bản trong chẩn đoán vi khuẩn

1. Phương pháp phân lập vi khuẩn Phân lập là khâu quan trọng trọng trong quá trình nghiên cứu vi khuẩn. Mục đích của phân lập là tách riêng các vi khuẩn từ quần thể ban đầu tạo thành các clon thuần khiết để khảo sát và định loại. Khi vi khuẩn tăng trưởng và phát triển trên bề mặt môi trường rắn đã tạo ra những khuẩn lạc, hình thái của các khuẩn lạc mang tính đặc trưng của từng loài vi khuẩn. Việc mô tả chính xác các khuẩn lạc đã tách rời có thể góp phần rất quan trọng trong việc định danh vi khuẩn. Các nhà vi khuẩn học đã tiêu chuẩn hoá có ý nghĩa khi miêu tả hình dáng, độ cao và bờ, rìa của khuẩn lạc. 

Hình thái khuẩn lạc

  Điều quan trọng trong quá trình nuôi cấy vi sinh vật là tránh không đưa thêm vi sinh vật ngoại nhiễm vào môi trường nuôi cấy. Muốn vậy, ngoài các thao tác luôn phải được tiến hành trong điều kiện vô trùng, mọi yếu tố từ môi trường, dụng cụ chứa, dụng cụ nuôi cấy đến các vật dụng cần thiết khác đều phải được khử trùng thích hợp để được vô trùng trước khi sử dụng.   1.1. Các dạng mẫu cho nuôi cấy -  Dạng dịch mẫu đã được đồng nhất, dịch nuôi cấy hoặc môi trường lỏng chứa chủng vi sinh vật cần phântích.   - Dạng trên bề mặt môi trường rắn chứa thạch (1,5-2%) trong ống thạch nghiêng hay trong đĩa petri.   -  Dạng mẫu nằm sâu trong môi trường rắn trong ống nghiệm thạch sâu chứa thạch mềm (0,5-0,7%).   1.2. Dụng cụ cấy - Que cấy thẳng: Que cấy kim loại có đầu nhọn, thường dùng để cấy vi khuẩn có tạo khuẩn ty.   - Que cấy móc: que cấy có đầu vuông góc, thường dùng để cấy vi khuẩn có tạo khuẩn ty.   - Que cấy vòng (Que khuyên cấy): que cấy kim loại đầu có vòng tròn, thường dùng cấy chủng từ môi trường rắn hoặc lỏng lên môi trường rắn, lỏng.   - Que cấy trang: bằng kim loại hay thủy tinh, đầu hình tam giác, dùng để dàn trải vi khuẩn trên bề mặt thạch rắn.   - Ống hút thủy tinh dùng để chuyển một lượng vi khuẩn nhất định lên bề mặt môi trường rắn hoặc vào môi trường lỏng. Hiện nay, pipet cấy chuyển với những đầu tip vô trùng có thể tháo rời để thay đổi (còn gọi là pipet đầu rời hay transfer pipet dạng hút thông thường).   -  Đầu tăm bông vô trùng để cấy giống từ môi trường lỏng lên bề mặt của môi trường rắn.   1.3. Các thao tác vô trùng Thao tác cấy được thực hiện trong một không gian vô trùng tạo bởi ngọn lửa đèn cồn hoặc đèn Bunsen. Ngọn lửa đèn cồn, đèn Bunsen có tác dụng oxy hóa không khí tạo không gian vô trùng, đồng thời còn được dùng để đốt khử trùng que cấy, miệng chai lọ, ống nghiệm khi mở, đóng, nút bông, nắp nhựa…   Để tránh việc gây nhiễm thông qua tiếp xúc, nhân viên thao tác cần mang găng tay hoặc tiến hành sát trùng tay bằng cồn 70o hoặc các dung dịch diệt khuẩn, tương tự như vậy tiến hành sát trùng mặt bàn thao tác trước khi bắt đầu thao tác vô trùng. Sau khi hoàn tất việc cấy chủng, tiến hành sát trùng tay, mặt bàn làm việc tương tự như trên trước khi rời phòng kiểm nghiệm.   1.4. Kỹ thuật cấy ria trên đĩa petri - Dùng que cấy vòng thao tác vô trùng nhúng vào dịch mẫu để có được các vi khuẩn cần phân lập.   - Ria các đường trên đĩa petri chứa môi trường thạch thích hợp. Sau mỗi đường ria liên tục, đốt khử trùng que cấy và làm nguội trước khi thực hiện đường ria tiếp theo.   - Lật ngược đĩa, ủ ở nhiệt độ và thời gian thích hợp trong tủ ấm.   1.5. Kỹ thuật cấy trang - Dùng pipet chuyển 0,1ml dịch canh khuẩn lên bề mặt môi trường thạch trong đĩa pettri.   - Nhúng đầu thanh gạt vào cồn, hơ qua ngọn lửa để khử trùng. Để đầu thanh gạt nguội trong không gian vô trùng của ngọn lửa.   -  Mở đĩa petri, đật nhẹ nhàng thanh gạt lên bề mặt thạch của đĩa petri. Dùng đầu thanh gạt trải đều dịch vi khuẩn lên bề mặt thạch. Trong khi thực hiện xoay đĩa một vài lần, mỗi lần khoảng nửa chu vi đĩa tạo điều kiện cho thanh gạt trải dịch vi khuẩn đều khắp bề mặt môi trường.   - Lật ngược đĩa, ủ ở nhiệt độ và thời gian thích hợp trong tủ ổn nhiệt.   2. Cấy chuyển 2.1. Cấy giống từ môi trường lỏng sang ống nghiệm chứa môi trường lỏng - Đốt nóng đỏ đầu que cấy trong ngọn lửa và hơ nhẹ phần cán (phần sẽ đưa vào bên trong dụng cụ chứa vi sinh vật). Cầm thẳng đứng que cấy cho que cấy nóng đều.   - Tay trái cầm ống nghiệm xoay nhẹ, tay phải cầm que cấy. Ngón út của tay phải dùng để mở nút bông.   - Mở nút bông xoay miệng ống nghiệm qua ngọn lửa.  

-  Đưa que cấy đã khử trùng vào bên trong ống nghiệm, làm nguội que cấy bằng cách áp đầu que cấy vào thành ống cho nguội. Thu sinh khối bằng cách nhúng que cấy vào môi trường lỏng, rút thẳng que cấy ra không để dính vào thành và miệng ống. Hơ nóng miệng ống nghiệm, đậy nút bông. Đặt ống nghiệm vào giá đỡ.

  - Đầu que cấy có chứa vi khuẩn được giữ ở vùng không khí vô trùng gần ngọn đèn. Dùng tay trái lấy ống nghiệm chứa môi trường mới, mở nút bông, khử trùng miệng ống nghiệm rồi đưa đầu que cấy vào bên trong môi trường.   - Nhúng và khuấy nhẹ que cấy trong dịch môi trường để tách sinh khối ra khỏi đầu que cấy.   - Rút thẳng đầu que cấy ra. Khử trùng miệng ống nghiệm, đậy nút bông lại.   - Khử trùng que cấy ngay sau khi cấy xong.   2.2. Cấy giống từ môi trường lỏng sang ống thạch nghiêng Tiến hành tương tự như trên với một số khác biệt sau: cấy giống lên bề mặt thạch nghiêng bằng cách đặt nhẹ đầu que cấy lên bề mặt môi trường ở đáy ống, sau đó cấy theo hình chữ chi từ đáy ống nghiệm lên đến đầu trên của mặt thạch nghiêng.   2.3. Cấy giống từ môi trường lỏng bằng pipet đầu rời Pipet đầu rời cho phép thao tác chính xác với những dung tích nhỏ. Trong thao tác vô trùng, pipet đầu rời rất hữu dụng vì cho phép cấy chuyển dễ dàng dịch vi khuẩn lên bề mặt môi trường rắn trong đĩa petri nhằm tạo khuẩn lạc rời hoặc vào ống nghiệm hay bình chứa môi trường lỏng để nuôi tăng sinh. Bằng một pipet đầu rời người ta có thể thực hiện với số lần không hạn chế các thao tác vô trùng này do có thể hấp khử trùng đồng loạt với số lượng lớn các đầu tip. Trước khi sử dụng, kiểm nghiệm viên cần biết các yêu cầu cơ bản khi thao tác với pipet đầu rời như sau:   -  Mỗi pipet đầu rời đều có giới hạn dung tích thao tác cho phép nhất định. Thông thường các dải dung tích đó là: 0,1 ml, 1- 20 ml, 20- 200 ml, 0,2- 1 ml, 1-5 ml, 1- 10 ml. Dải dung tích thao tác cho phép này thường được ghi rõ trên pipet đầu rời. Trong dải dung tích cho phép, kiểm nghiệm viên có thể điều chỉnh để có dung tích chính xác cần thao tác. Cần chọn pipet đầu rời với giới hạn dung tích thích hợp cho phạm vi thao tác. Mỗi loại pipet đầu rời đều có đầu tip tương ứng và có thể được khử trùng bằng nồi hấp áp suất.  - Pipet đầu rời thường có hai nấc: nấc 1 tương đương với dung tích được chọn sử dụng khi hút dung dịch, nấc 2 vượt quá nấc 1 được sử dụng khi bơm dung dịch ra khỏi đầu tip của pipet đầu rời. - Khi sử dụng pipet đầu rời để cấy chuyển dịch giống cần tiến hành thao tác trong không gian vô trùng của ngọn lửa trong tủ cấy. - Tay phải cần pipet đầu rời, tay trái mở hộp chứa đầu tip vô trùng. Cắm đầu pipet vào đầu tip. - Dùng tay trái giữ ống nghiệm, bình chứa dịch giống vi sinh vật. Dùng ngón út và áp út của tay phải đang giữ pipet để kẹp giữ và mở nút bông, hơ nóng khử trùng miệng ống nghiệm hoặc bình chứa. - Đưa đầu tip vô trùng vào bên trong dịch giống, hút lấy dung tích cần thiết. - Rút đầu tip ra khỏi miệng bình chứa, khử trùng miệng bình chứa và đậy bằng nút bông đang được giữ ở ngón út và áp út của tay phải. - Đầu tip có chứa vi sinh vật được giữ ở vùng không khí vô trùng gần ngọn đèn. - Dùng tay trái lấy ống nghiệm hoặc bình chứa môi trường mới, dùng ngón út và áp út kẹp và mở nút bông, khử trùng miệng bình chứa. - Đưa đầu tip vào bên trong môi trường và bơm dịch giống vào môi trường. - Rút đầu tip ra khỏi miệng bình chứa, khử trùng miệng bình, đậy nút bông. - Thay đầu tip vô trùng mới khi thực hiện đợt cấy tiếp theo. - Thực hiện tương tự trong trường hợp cấy chuyển dịch giống lên bề mặt môi trường trong đĩa petri. - Cần lưu ý đầu pipet đầu rời và đầu tip được chế tạo bằng polymer nên tuyệt đối khử trùng đầu pipet và đầu tip bằng ngọn lửa.   Để đảm bảo sự phát triển của vi khuẩn, sau khi cấy xong phải quan tâm đến các điều kiện môi trường nuôi vi khuẩn bao gồm: (1) Nhiệt độ, phải chọn nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của mỗi loài vi khuẩn và duy trì ổn định nhiệt độ đó; (2) Độ ẩm, để duy trì độ ẩm trong quá trình nuôi ủ, cần đảm bảo đủ lượng nước khi làm môi trường. (3) Khí oxy đối với vi sinh vật hiếu khí, lớp môi trường nuôi cấy có độ dày vừa phải để oxy không khí có thể thấm vào.   3. Quy trình nhân giống và bảo quản chủng vi sinh vật chuẩn 3.1. Nguồn gốc Chủng chuẩn cung cấp cho phòng thí nghiệm phải có nguồn gốc từ các nhà cung cấp hay tổ chức cung cấp giống vi khuẩn có uy tín, có chức năng cung cấp chủng giống vi khuẩn.   Giống được cung cấp phải đảm bảo yêu cầu về chất lượng, hoạt tính, có thông tin về các đặc điểm về sinh hóa, tính chất kháng nguyên.   Khi được nhà cung cấp chuyển đến phòng thí nghiệm các ống chủng vi khuẩn phải có nhãn ghi đầy đủ tên, mã số, ký hiệu chủng loại kèm theo hướng dẫn bảo quản, số lần cấy chuyền (số thế hệ) và các đặc điểm sinh hóa, kháng nguyên.   3.2. Nhân giống và bảo quản Chủng giống dạng đông khô từ các ngân hàng giống được coi là giống gốc. Từ đây chủng được nhân lên trong môi trường canh thang (lần cấy chuyền thứ nhất).   Vi sinh vật từ môi trường canh thang được cấy chuyển vào môi trường thạch dinh dưỡng Tryptose Soy Agar (TSA – 1 đĩa và 15 ống thạch nghiêng) và môi trường chọn lọc.   - Môi trường thạch không chọn lọc: ủ ở 370C 24 giờ, kiểm tra độ thuần chủng trên đĩa TSA. Số lượng ống chủng phụ thuộc vào nhu cầu của phòng. Kiểm tra lại và loại bỏ những ống củng không đạt yêu cầu. Bảo quản các ống chủng ở 40C, thời gian bảo quản tối đa là 3 tháng. Các chủng này được dùng làm đối chứng trong các lần phân tích mẫu.   – Môi trường thạch chọn lọc: cấy chủng từ môi trường canh thang trên lên môi trường thạch chọn lọc. Sau khi ủ, chọn một số khuẩn lạc để kiểm tra lại mức độ thuần khiết, các đặc tính sinh hóa và đặc tính kháng nguyên.   Khi ống chủng sắp hết thời gian bảo quản cho một lần cấy chuyển, các chủng giống được nhân lên trong môi trường canh thang dinh dưỡng và cấy chuyền vào các ống thạch nghiêng để bảo quản tương tự như trên.   Với một chủng vi khuẩn chuẩn chỉ được cấy tối đa 5 lần kể từ lần nhân giống đầu tiên. Sau mỗi lần cấy chuyển đều phải kiểm tra lại hoạt tính và độ thuần chủng. Khi hết thời hạn cấy chuyển phải thay chủng giống mới.   3.4. Sử dụng chủng chuẩn trong phân tích mẫu Các chủng chuẩn trong môi trường thạch nghiêng trước khi sử dụng làm mẫu chứng dương được cấy sang môi trường thạch đĩa không chọn lọc (Plate Count Agar, Tryptose Soy Agar hay Nutrien Agar) nhằm kiểm tra độ thuần khiết, các đĩa này được bảo quản và sử dụng trong một tuần.   3.5. Chú ý khi sử dụng chủng chuẩn Các chủng chuẩn phải được sử dụng và bảo quản cẩn thận ở 40C, mỗi ống chủng phải có nhãn mác ghi các thông tin như: tên, ký hiệu chủng, ngày, số lần cấy chuyển…   Kiểm nghiệm viên phải thận trọng và tuân thủ các quy định về an toàn phòng kiểm nghiệm khi cấy chuyển thao tác với các chủng chuẩn để tránh nhiễm bệnh hay làm lây lan mầm bệnh.   Dụng cụ sau khi tiếp xúc với các chủng vi khuẩn phải đựơc thanh trùng cẩn thận. Dụng cụ thủy tinh và các đĩa petri sau khi dùng phải được hấp khử trùng ở 121oC 20 phút trước khi đem rửa, dụng cụ thủy tinh được ngâm trong dung dịch chlorin, sau đó rửa bằng xà phòng và tráng lại bằng nước sạch trước khi phơi khô.   4. Phương pháp soi tươi Có thao tác đơn giản, tiến hành nhanh, thường được sử dụng để quan sát trạng thái sống của tế bào vi khuẩn.   4.1. Phương pháp thực hiện 4.1.1. Dụng cụ         - Lam kính: dùng làm tiêu bản.         - Lam phủ (lamel, kính phủ vật): dùng để đậy lên các tiêu bản.         - Lam kính lõm: dùng để quan sát khả năng di động của vi khuẩn.   4.1.2. Chuẩn bị giọt canh khuẩn từ môi trường nuôi cấy - Đặt ống chứa vi khuẩn vào giữa ngón cái và ngón trỏ của bàn tay trái, lòng bàn tay ngửa ra, ống nghiệm để hơi nghiêng nhưng không được để cho canh khuẩn chạm vào nút bông của ống nghiệm nuôi cấy vi khuẩn.   - Khử trùng que cấy trên ngọn đèn cồn. Để que cấy thẳng đứng trên ngọn lửa cho đến khi đầu que cấy nóng đỏ rồi từ từ đặt và di chuyển que cấy theo chiều nằm ngang trên ngọn lửa.   - Kẹp nút bông vào giữa ngón út và lòng bàn tay phải, xoay nhẹ nút một vòng và kéo nút ra. Giữ nút như vậy cho đến khi đậy nút vào.   - Đốt miệng ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn.   - Đưa que cấy đã nguội vào ống nghiệm để lấy mẫu. Nếu ống giống là môi trường lỏng thì chỉ cần nhúng đầu que cấy vào canh trường rồi rút ra. Nếu giống mọc trên môi trường đặc thì dùng que cấy lấy một ít sinh khối vi sinh vật trên mặt thạch và hòa đều vào giọt nước cất vô trùng trên lam kính. Chú ý thao tác hết sức nhẹ nhàng để khi lấy mẫu vi khuẩn không làm rách mặt thạch.   - Rút que cấy ra, đốt miệng ống nghiệm, đậy ống nghiệm lại và đặt ống vào giá.   - Đặt giọt canh khuẩn (hoặc sinh khối vi sinh vật) ở đầu que cấy vào giữa phiến kính để làm tiêu bản.   - Khử trùng lại que cấy trên ngọn đèn rồi cất vào giá.   4.1.3. Tiêu bản giọt ép - Dùng que cấy hoặc ống hút káy giống vi sinh vật để làm vết bôi. - Đặt một mép kính phủ vật tiếp xúc với lam kính một góc 450 rồi từ từ hạ xuống phủ giọt canh khuẩn thật nhẹ nhàng, tránh không tạo thành bọt khí.   4.1.4. Tiêu bản giọt treo Dùng phiến kính đặc biệt có phần lõm hình tròn ở giữa. - Cho một giọt canh khuẩn lên giữa kính phủ vật. Thận trọng xoay ngược lá kính cho giọt canh khuẩn quay xuống phía dưới rồi đặt lên phần lõm của phiến kính. - Chú ý không giọt canh khuẩn lan rộng hay chạm vào đáy của phần lõm. - Đặt tiêu bản lên kính hiển vi và quan sát ở vật kính 10x hoặc 40x.  

Trên thị trường hiện nay đã xuất hiện một dụng cụ có tên gọi là vòng O (O-ring) dùng để thực hiện giọt treo mà không cần lam kính lõm. Đây là một miếng đệm hình tròn, có kích thước vòng trong 12 mm, cao 3 mm có thể sử dụng nhiều lần. Khi thực hiện, người ta đặt vòng O lên giữa lam kính thường, đưa giọt canh khuẩn vào một mặt của kính phủ vật, xoay ngược kính phủ vật và úp lên vòng O. Đây là cải tiến của nhà sản xuất Science Kit, một bộ O- ring 25 chiếc có giá khoảng 20 USD

.   5. Phương pháp nhuộm gram Năm 1884, Hans Christian Joachim Gram, một nhà khoa học người Đan Mạch đã sáng chế ra phương pháp nhuộm vi khuẩn mới mà ngày nay tên gọi đã trở lên rất quen thuộc với mọi phòng thí nghiệm vi khuẩn thế giới:   Phương pháp nhuộm gram là một trong những kỹ thuật cơ bản và quan trọng nhất trong phân tích vi khuẩn ở giai đoạn đầu nhằm xác định sơ bộ đặc tính của các dòng vi khuẩn muốn nghiên cứu theo tính chất bắt mầu gram của chúng. Vi khuẩn bắt mầu hỗn hợp crystal violet – iodin sẽ có màu tím nâu khi quan sát dưới kính hiển vi quang học và được xếp vào nhóm vi khuẩn gram dương. Những dòng vi khuẩn khác không giữ được mầu crystal violet và bắt mầu fuchsin (đỏ) được xếp vào nhóm vi khuẩn gram âm.   Phương pháp nhuộm gram dựa vào khả năng lưu giữ crystal violet của thành tế bào các dòng vi khuẩn sau khi bị tẩy bằng cồn. Việc xác định thời gian tẩy mầu là yếu tố quan trọng trong việc phân biệt vi khuẩn gram dương và vi khuẩn gram âm. Nếu kéo dài thời gian tẩy mầu, ngay cả vi khuẩn gram dương cũng không giữ được mầu nhuộm ban đầu. Ngoài ra, một số loài vi khuẩn gram dương cũng có thể bị tẩy mầu dễ dàng và vì thế chúng được coi là các dòng vi khuẩn có tính chất bắt mầu gram thay đổi (có thể âm lẫn dương). Chất nhuộm fuchsin (hoặc có thể thay bằng safranin) tạo cho vi khuẩn gram âm có mầu hồng đỏ. Fuchsin nhuộm mầu mạnh hơn và có mầu dễ nhìn hơn safranin. (Haemophilus spp., và một vài dòng vi khuẩn kỵ khí không ăn màu safranin)   5.1. Kỹ thuật nhuộm gram 5.1.1. Pha dung dịch thuốc nhuộm a) Dung dịch Cristal violet:

 * Dung dịch A:

– Crystal violet………………2 g

– Ethanol 95% ………………20 ml

* Dung dịch B:

– Ammonium oxalat …………………0,8

– Nước cất……………………………..80 ml

 

          Trộn đều 2 dung dich A và B, lọc qua giấy lọc thô, giữ ở nhiệt độ phòng trong chai mầu nâu.

  b) Dung dịch Lugol:

– Indin tinh thể……………………….1 g

– Potasium iodid………………………2 g

– Nước cất……………………………………….300 ml

  Nghiền Iodin vào Potassium iodid trong 50 ml nước cất cho hòa tan hoàn toàn. Thêm phần nước cất còn lại, giữ ở nhiệt độ phòng trong chai nâu. Khi dung dịch mất mầu phải pha lại.   c) Dung dịch Carbon fuchsin:

* Dung dich A:

– Fuchsin………………………………0,3 g

– Ethanol 95%………………………………….10 ml

* Dung dịch B

– Phenol nóng chảy…………………….5 ml

– Nước cất………………………………95 ml

 

Trộn đều dung dịch A và dung dich B, lọc qua giấy lọc thô.

  d) Dung dịch Acid Alcohol:

– HCL…………………………………..3 ml

– Ethanol cho đủ………………………..100 ml

      5.1.2. Cố định phiến phết a) Từ môi trường lỏng - Dùng bút sáp để ghi tên mẫu hoặc số nhận diện, ngày thử nghiệm. Vẽ vòng tròn để giới hạn vùng phiến phết vi khuẩn. - Dùng khuyên cấy lấy một khuyên dịch khuẩn, dàn đều thành lớp mỏng giới hạn trong vòng tròn đã vẽ trên lam kính. Để dịch khuẩn tự khô hoàn toàn. - Hơ mặt dưới của lam kính qua lai trên ngọn lửa 2- 3 lần, tránh không để tiêu bản quá nóng.   b) Từ môi trường rắn - Dùng bút sáp để ghi tên mẫu hoặc số nhân diện, ngày thử nghiệm. Vẽ vòng tròn để giới hạn vùng phiến phết vi khuẩn. - Dùng khuyên cấy lấy một khuyên cấy nước cất vô trùng đặt vào giữa vòng tròn đã vẽ, lấy một lượng nhỏ vi khuẩn từ khuẩn lạc và dàn mỏng với nước cất trong vòng tròn. Để dịch khuẩn tự khô hoàn toàn. - Hơ mặt dưới của lam kinh qua lại trên ngọn lửa 2 đến 3 lần, tránh không để tiêu bản quá nóng.   5.1.3. Tiến hành nhuộm - Phủ dung dịch lên lam kính đã được cố định trong 1 phút. - Đổ bỏ dung dịch Crustal violet và rửa với nước cất. -  Phủ dung dịch làm cắn màu lugol trong 1 phút, sau đó đổ bỏ dung dịch lugol và rửa nhẹ với nước. - Cầm một đầu lam kính, nhỏ từ từ cồn 950 cho đến khi vùng phiến kính bạc màu di ( thời gian tẩy cồn thông thường từ 10-15 giây). Rửa ngay với nước để chấm dứt công đoạn tẩy màu. - Phủ dung dịch fuchsin lên lam kính 30 giây, đổ bỏ dung dịch và rửa qua nước. - Dùng giấy thấm để thấm khô hoặc để khô tự nhiên. Khảo sát hình thể và tính chất bắt mầu của vi khuẩn dưới kính hiển vi với vật kính dầu.   5.2. Nguyên nhân một số sai lệch trong phương pháp nhuộm gram 5.2.1. Gram dương trở thành gram âm - Lứa cấy quá già: vi khuẩn trong quá trình biến dưỡng sinh ra một số chất có khả năng làm tăng tính acid của môi trường nuôi cấy gây sai lệch kết quả. Tốt nhất lên nhuộm gram với lứa cấy từ 18-24 giờ. - Dung dịch Lugol bị hỏng: phải bảo quản dung dịch lugol trong chai nâu, tránh ánh sáng và cần loại bỏ ngay khi thấy dung dịch chuyển màu từ nâu sang vàng. - Tẩy màu quá mức: nhỏ quá nhiều cồn hoặc không rửa nước ngay.   5.2.2. Gram âm trở thành gram dương - Cố định tiêu bản khi còn ướt, các hợp chất protein có trong môi trường họăc trong mẫu thử làm tiêu bản khó tẩy màu. - Tẩy màu chưa đạt.  

Phản ứng với thuốc nhuộm của các chủng vi khuẩn

                   A: E. coli, gram (-)                    B: Staphylococcus epidermidis, Gram (+)                    C: Bacillus cereus, Gram (+).   6. Các thử nghiệm sinh vật hoá học 6.1. Lên men đường Thử nghiệm lên men trong môi trường canh thang có chứa đường, pepton và cao thịt (để cung cấp các dinh dưỡng phụ cho các vi sinh vật khó lên men), và chất chỉ thị mầu tía cresol brom (chất chỉ thị pH). Nếu có sự lên men đường, thường sinh ra acid. Trường hợp này pH môi trường giảm xuống đã làm cho màu tía cresol brom chuyển từ xanh sang vàng. Cũng như vậy, nếu thêm ống Durham, sẽ cho phép xác định sự sinh hơi (H2) từ quá trình lên men. Kết quả trả lời cuối cùng là sinh acid (+/-) và gas (+/-).   Phản ứng lên men trong MT canh thang: Nếu vi khuẩn không lên men với test đường thì thuốc nhuộm màu tía vẫn còn lại và không sinh gas (trái). Nếu quả trình lên men xảy ra, hầu hết là sinh ra acid, khi đó pH giảm và làm đổi màu của canh thang sang màu vàng (giữa). Nếu sinh gas, ống Durham ở trong đảo ngược lên và nhìn như có bong bóng (phải).  

6.2. Thủy phân tinh bột Đĩa thạch tinh bột được sử dụng để thử tính chất thủy phân tinh bột ngoại bào. Tinh bột là 1 phân tử polysacchrid có trọng lượng quá lớn để có thể dịch chuyển vào trong tế bào mà bước đầu không cần bẻ gãy thành những đơn vị nhỏ hơn. Khả năng thủy phân tinh bột phụ thuộc vào sự sản xuất và bài tiết một số men để giáng phân polymer. Sự phá vỡ tinh bột được nhận thấy sau khi ủ ngập đĩa với iod. Phức hợp iod với tinh bột nguyên chất có màu xanh. Nếu vi khuẩn có khả năng phá hủy tinh bột, không có phản ứng xảy ra và ta thấy xuất hiện một vùng trống (không màu) quanh khuẩn lạc.   Thủy phân tinh bột: Các vi khuẩn có khả năng sử dụng tinh bột để tiết ra men amylase, men này được dùng để thủy phân tinh bột. Quá trình tinh bột bị phá vỡ được quan sát thấy khi ta ngâm đĩa tinh bột với iod, quá trình đó đã tạo ra phức hợp màu tía. Các vi khuẩn thử nghiệm không có khả năng phá vỡ tinh bột sẽ tạo ra đường viền đầy đủ do một vùng màu tía (trái). Khi tinh bột bị phá vỡ sẽ tạo ra một vùng sáng xung quanh đường cấy, trong khi nền của đĩa là màu tía (phải).  

6.3. Thử nghiệm Catalase Môi trường thạch tim (HIA) được sử dụng như một môi trường cho nhiều mục đích, như để xác nhận hình thái khuẩn lạc và phản ứng catalase. Trong suốt quá trình chuyển hoá oxy được tạo ra đã làm nhiễm độc các tế bào, khi đó các enzym đặc biệt của vi khuẩn được tạo ra để giải độc những hợp chất đó. Một trong các enzym đó là catalase có tác dụng phân giải H2O2 tạo thành oxy và nước. Đây là một thử nghiệm dễ dàng để phát hiện enzym này trong vi khuẩn khi sử dụng H2O2  3%.   

Phản ứng catalase với các chủng thử nghiệm

  6.4. Giáng hoá tryptophan thành Indole  Canh thang Tryptone chứa nồng độ cao amino acid tryptophan. Một số vi sinh vật có khả năng phân hủy tryptophan thành indole và khả năng này được dùng để phân biệt các vi khuẩn. Thử nghiệm được thực hiện bằng cách thêm chất thử Kovac vào canh cấy, kết quả là nếu xuất hiện indole thì sẽ có vòng màu đỏ ở phía trên của canh cấy. Ví dụ, phản ứng dương tính và âm tính của thử nghiệm indole trong hình 7.   Quá trình giáng hoá indole Dương tính cho 1 vòng tròn máu đỏ phía trên môi trường (trái), âm tính là 1 vòng tròn mầu nâu hoặc trong mờ đục (phải). Việc xác định các vi sinh vật bằng các thử nghiệm hoá sinh trên đã được thực hiện qua nhiều thế kỷ và đã được tiêu chuẩn hoá. Để các thử nghiệm này được tiến hành thuận lợi hơn, các nhà sản xuất đã chế tạo ra những bộ kit chẩn đoán nhanh để định danh vi khuẩn, ví dụ như strip Api 20.  

Các phản ứng sinh hoá trên bộ Api-20

    7. Các kỹ thuật phát hiện kháng thể, kháng nguyên và AND của vi khuẩn Một trong những hạn chế của các thử nghiệm sinh hoá là vi sinh vật phải phát triển trên một vài môi trường nào đó và thời gian cần ít nhất là 12 – 24 giờ để đọc kết quả. Trên thực tế, các chủng thử nghiệm có thể bị đột biến cho nên không thực hiện được chuyển hoá bình thường như chủng chuẩn khác, ví dụ hầu hết các loài chúng tôi có khả năng sử dụng lactose như 1 nguồn carbon, tuy nhiên những chúng tôi phân lập được lại không có khả năng sử dụng lactose. Mặt khác, trong một số trường hợp nuôi cấy phân lập vi khuẩn có thể bị thất bại do việc sử dụng kháng sinh để điều trị. Để khắc phục những nhược điểm này, các kỹ thuật phát hiện kháng nguyên, kháng thể và vật liệu di truyền của vi khuẩn là những công cụ hữư hiệu nhất ngày càng được sử dụng rộng rãi.   7.1. Các kỹ thuật phát hiện kháng nguyên - Kỹ thuật ngưng kết hạt (Partical Agglutination). - Thử nghiệm kết tủa (Precipilin Tests). - Kỹ thuật nhuộm với kháng thể gắn huỳnh quang. - Thử nghiệm miễn dịch pha rắn với kháng thể gắn enzym.  7.2. Các kỹ thuật phát hiện kháng thể - Kỹ thuật ngưng kết hạt (Partical Agglutination). - Kỹ thuật tủa (Precipitation Assay). - Kỹ thuật kết hợp bổ thể (Complêmnt Fixation test). - Kỹ thuật miễn dịch gắn enzym. - Kỹ thuật Western Blotting.  

          TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1. Lê Huy Chính. Vi sinh Y học. Nhà xuất bản Y học. 2001. 12 – 37, 100 - 119.  2. Diagnostic Microbiology. Connie R., Mahon M.S., Giorge Manuselis J.R., W.B Saunder Company.1995.  3. Diagnostic Procudures for Bacterial, Mycotic, and parasitic infections, 5th. Bodily. Howard L., Ypdyke, Elaine L, Jame O. American Public Health Association, Inc, New York, 1970.

Tổng Quan Về Hệ Thống Nhân Vật Trong Axe: Đế Quốc X Liên Minh

Vào 10:00 sáng nay (08/08/2024), game mobile AxE: Đế Quốc x Liên Minh đã chính thức được Gamota và Nexon trình làng tại Việt Nam. Đây là game mobile thuộc thể loại nhập vai nhiều người chơi (MMORPG) được phát triển bởi Nexon Red và được Nexon phát hành trên toàn cầu với tên gọi chính thức là AxE: Alliance vs Empire.

BỐI CẢNH

Hàng ngàn năm trước, hai vị thần Benuv và Kaidan đã tranh đấu để giành quyền thống trị cả thế giới. Cuộc chiến của họ trải dài ở khắp các vùng đất trong một khoảng thời gian không thể đếm được nhưng cuối cùng họ đã tự phong ấn mình lại.

Thời gian trôi qua, những kẻ tôn thờ họ đã chia thành Liên Minh Galanos và Đế Quốc Darkhaan. Đế Quốc Darkhaan là những người có mong muốn hồi sinh thần trật tự Benuv để thiết lập lại hòa bình. Nhưng Liên Minh Galanos lại tin rằng nếu Thần Trật Tự Benuv được hồi sinh thì Thần Hỗn Mang Kaidan cũng sẽ sống lại và dẫn đến thảm họa cho thế giới.

ĐẾ QUỐC DARKHAAN

Các vị thần là người cân bằng trật tự trên thế giới và chúng ta chiến đấu để hồi sinh họ!

Đế quốc Darkhaan chiến đấu để trả lại tự do cho Thần Trật Tự Benuv bị phong ấn với niềm tin các vị thần là người cân bằng trật tự trên thế giới. Họ mâu thuẫn với Liên Minh Galanos, những người bất chấp tất cả để ngăn chặn sự hồi sinh của các vị thần.

Nữ Chiến Thần (Valkyrie): Bậc thầy sử dụng kiếm và khiên để tấn công trực diện. Họ có thuộc tính chữa trị và hỗ trợ.

Chiến Binh (Warrior): Chiến binh có danh dự và đức tin vững chãi. Họ sử dụng đại đao để đánh cận chiến và thuộc tính của họ tập trung vào việc khống chế đám đông.

Pháp Sư (Mage): Những người sử dụng một cách xuất chúng sức mạnh của các nguyên tố và bí thuật. Họ sử dụng pháp thuật tầm xa để đánh bay kẻ thù và có thuộc tính tấn công.

LIÊN MINH GALANOS

Các vị thần là những kẻ tạo nên sự hỗn mang và chúng ta chiến đấu để giam giữ chúng!

Liên Minh Galanos là một liên minh gồm nhiều quốc gia được tập hợp để chống lại Đế Quốc Darkhaan. Họ tin rằng nếu Thần Trật Tự Benuv được hồi sinh thì Thần Hỗn Mang Kaidan cũng sẽ sống lại. Họ chiến đấu chống lại Đế Quốc để duy trì ý chí tự do.

Cung Thủ (Archer): Một tinh linh sử dụng sức mạnh của thiên nhiên để phủ đầu kẻ thù với thuộc tính tập trung vào chữa trị và hỗ trợ.

Titan: Các Titan đề cao sức mạnh và năng lực hơn tất cả. Họ sử dụng rìu đôi để chiến đấu cận chiến và có thuộc tính khống chế đám đông.

Kiếm Sư (Blademaster): Một bậc thầy về sử dụng kiếm với thuộc tính thiên về tấn công.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tổng Quan Về Vi Khuẩn trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!