Ý Nghĩa Tên Gọi Hà Nội

au khi diệt triều Tây S ơn, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên ( vốn là đất đai của kinh thành Thăng Long cũ ) thành phủ Hoài Đức và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc ngang với ) vị vua này tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn, xoá bỏ Bắc Thành ( gồm 11 trấn và 1 phủ trực thuộc ) ở miền Bắc, chia cả nước ra làm 29 ng. Tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Hoài Đức của trấn Tây Sơn, và ba phủ Ứng Hoà, Thường Tín, Lý Nhân của trấn Sơn Nam. trấn tức trực thuộc trung ương mà đại diện là Tổng trấn Bắc Thành. Đến năm Minh Mạng thứ 12 ( tỉnh trong đó có 15 tỉnh trực thuộc trung ươ

– phủ Hoài Đức gồm 3 huyện : Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêmng Mỹ – Thanh Oai ) – phủ Thường Tín gồm 3 huyện : Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên – phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện : Sơn Minh ( nay là Ứng Hòa ), Hoài An ( nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức ), Chương Đức ( Nay là Chươ – phủ Lý Nhân gồm 5 huyện : Nam Xang ( nay là Lý Nhân ), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục

Hà Nội có nghĩa là phía trong các con sông, vì tỉnh mới Hà Nội được bao bọc bởi 2 con sông : sông Hồng và sông Đáy. Nh ư vậy tỉnh Hà Nội lúc đó gồm thành phố Hà Nội, nửa chính đông tỉnh Hà Tây ( chính là tỉnh Hà Tây thời Pháp thuộc ) và toàn bộ tỉnh Hà Nam. Như vậy rõ ràng tỉnh Hà Nội có đại bộ phận nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đ

ười cho rằng chữ Hà Nội là lấy từ câu trong sách Mạnh Tử ( Thiên Lương Huệ Vương ) : “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ tức ư Hà Nội” ( nghĩa là : Hà Nội bị tai hoạ thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội ). Nguyên ở Trung Quốc thời Mạnh Tử ( thế kỷ III chúng tôi ) phía bắc sông Hoàng gọi là đất Hà Nội, phía Nam là Hà Ngoại. Vùng đất Hà Nội ấy nay ứng với tỉnh Hà Bắc. Lại do sông Hoàng khi tới địa đầu tỉnh Sơn Tây ngày nay thì chạy theo hướng Bắc – Nam, trở thành ranh giới giữa hai tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây. Sơn Tây ở phía đông sông Hoàng nên thời cổ có tên là đất Hà Đông, còn Thiểm Tây là Hà Tây. Thực sự cũng có việc dùng câu sách Mạnh Tử nói trên, nhưng đó là trường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, người ta mới dùng tên Hà Đông ( dựa vào tên Hà Nội đã có từ trư

Ý Nghĩa Tên Tú Linh, Luận Ngũ Cách Tên Gọi Tú Linh

Ý nghĩa tên Tú Linh là gì ? Khi đặt tên cho con là Tú Linh cha mẹ mong đợi điều gì ? Cùng ibongda tìm hiểu chi tiết phân tích ngũ cách tên gọi để hiểu thêm hơn về ý nghĩa tên gọi này. Ý nghĩa tên Tú Linh Theo ý nghĩa Hán Việt, […]

Ý nghĩa tên Tú Linh là gì ? Khi đặt tên cho con là Tú Linh cha mẹ mong đợi điều gì ? Cùng ibongda tìm hiểu chi tiết phân tích ngũ cách tên gọi để hiểu thêm hơn về ý nghĩa tên gọi này.

Theo ý nghĩa Hán Việt, Tú Linh cua nghĩa là đa tài, tính tình ôn hoà, người có tên Tú Linh thành công thời trung niên phát tài, phát lộc.

1. Thiên cách:

Thiên cách tên được tính bằng tổng số nét của Họ Tú ( 7 ) + 1 = 8 , Thuộc Âm Kim, đây là quẻ Bán Cát Bán Hung : Người có ý kiên cường, giải trừ được hoạn nạn, có khí phách nghiền nát kẻ thù mà nên việc. (điểm: 10/20)

Luận Thiên Cách chính là phần tích những yếu tố đại diện cho cha mẹ, cho bề trên cho sự nghiệp và danh dự. Nếu như không tính tới sự phối hợp với những cách khá thì Thiên cách còn dùng để ám chỉ về khí chất của người đó, là đại diện cho vận ở thời niên thiếu.

Nhân cách của tên này được tính bằng tổng nét của chữ Tú (7) + 1) = 8, thuộc hành Âm Kim, đây là quẻ Bán Cát, Bán Hung – Kiên cường, giải trừ hoạn nạn, làm mọi việc để đạt được mục đích. (điểm: 15/30)

Nhân cách: hay còn được gọi là “Chủ Vận” chính là trung tâm của họ và tên, là yếu tố chi phối cả cuộc đời của con người, đại diện cho nhận thức, cho quan niệm nhân sinh. Cũng giống như mệnh chủ trong mệnh lý, nhân cách còn là hạt nhân biểu thị cát hung trong tên họ. Nếu đứng đơn độc, Nhân cách còn ám chỉ tính cách của người đó. Trong Tính Danh học, Nhân cách đóng vai trò là chủ vận.

Địa cách của tên được tính bằng tổng số nét là 1 + số nét của tên Linh(5) = 6. Thuộc hành : Âm Thổ. Đây là quẻ Cát : Thiên đức địa tường đầy đủ, tài lộc phúc thọ dồi dào, suốt đời yên ổn giàu sang, trở thành đại phú. Nhưng vui vẻ quá trớn e rằng quá vui sẽ buồn, nên thận trọng; có đức thì hưởng phúc. (điểm: 15/20)

Địa cách còn gọi là “Tiền Vận”(trước 30 tuổi) đại diện cho bề dưới, vợ con, và thuộc hạ, người nhỏ hơn mình, nền móng của người mang tên đó. tượng trưng thời gian trong cuộc đời. Địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận.

4. Ngoại cách:

Ngoại cách chỉ thế giới bên ngoài, bạn bè, người ngoài xã hội, những người bằng vai phải lứa, quan hệ xã giao. Vì mức độ quan trọng của quan hệ giao tiếp ngoài xã hội nên Ngoại cách được coi là “Phó vận” nó có thể xem phúc đức dày hay mỏng.

Ngoại cách tên gọi được tính bằng tổng số nét của tên Linh(5) + 1 = 8 . Thuộc hành Âm Kim, đây là quả Bán Cát Bán Hung. (điểm: 5/10)

Tổng cách là sự thu nạp ý nghĩa của Thiên cách, Nhân cách, Địa … là đại diện tổng hợp cho cả cuộc đời, đồng thời thể hiện hậu vận tốt xấu của từ trung niên trở về sau.

Tổng cách tên gọi được tính bằng tổng của số nét hai chữ Tu và Linh : Tú(7) + Linh(5)) = 12 . Thuộc hành Âm Mộc, đây là quẻ HUNG. (điểm: 5/20)

Ý Nghĩa Của Tên Gọi Hà Nội

Ý nghĩa của tên gọi Hà Nội

Sau khi diệt triều Tây Sơn, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên ( vốn là đất đai của kinh thành Thăng Long cũ ) thành phủ Hoài Đức và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc ngang với trấn tức trực thuộc trung ương mà đại diện là Tổng trấn Bắc Thành. Đến năm Minh Mạng thứ 12 ( 1831 ) vị vua này tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn, xoá bỏ Bắc Thành ( gồm 11 trấn và 1 phủ trực thuộc ) ở miền Bắc, chia cả nước ra làm 29 tỉnh trong đó có 15 tỉnh trực thuộc trung ương. Tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Hoài Đức của trấn Tây Sơn, và ba phủ Ứng Hoà, Thường Tín, Lý Nhân của trấn Sơn Nam.

– phủ Hoài Đức gồm 3 huyện : Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm – phủ Thường Tín gồm 3 huyện : Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên – phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện : Sơn Minh ( nay là Ứng Hòa ), Hoài An ( nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức ), Chương Đức ( Nay là Chương Mỹ – Thanh Oai ) – phủ Lý Nhân gồm 5 huyện : Nam Xang ( nay là Lý Nhân ), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục Danh từ Hà Nội bắt đầu có từ bấy giờ ( 1831 ).

Hà Nội có nghĩa là phía trong các con sông, vì tỉnh mới Hà Nội được bao bọc bởi 2 con sông : sông Hồng và sông Đáy. Như vậy tỉnh Hà Nội lúc đó gồm thành phố Hà Nội, nửa chính đông tỉnh Hà Tây ( chính là tỉnh Hà Tây thời Pháp thuộc ) và toàn bộ tỉnh Hà Nam. Như vậy rõ ràng tỉnh Hà Nội có đại bộ phận nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đáy.

Có người cho rằng chữ Hà Nội là lấy từ câu trong sách Mạnh Tử ( Thiên Lương Huệ Vương ) : “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ tức ư Hà Nội” ( nghĩa là : Hà Nội bị tai hoạ thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội ). Nguyên ở Trung Quốc thời Mạnh Tử ( thế kỷ III chúng tôi ) phía bắc sông Hoàng gọi là đất Hà Nội, phía Nam là Hà Ngoại. Vùng đất Hà Nội ấy nay ứng với tỉnh Hà Bắc. Lại do sông Hoàng khi tới địa đầu tỉnh Sơn Tây ngày nay thì chạy theo hướng Bắc – Nam, trở thành ranh giới giữa hai tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây. Sơn Tây ở phía đông sông Hoàng nên thời cổ có tên là đất Hà Đông, còn Thiểm Tây là Hà Tây. Thực sự cũng có việc dùng câu sách Mạnh Tử nói trên, nhưng đó là trường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, người ta mới dùng tên Hà Đông ( dựa vào tên Hà Nội đã có từ trước )

NHỮNG TÊN GỌI CỦA HÀ NỘI QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

THĂNG LONG – HÀ NỘI là kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Mảnh đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành kinh đô của nước Ðại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tuỳ (581 – 618), Ðường (618 – 907) của phong kiến phương Bắc. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long – Hà Nội có nhiều tên gọi, được chia thành hai loại: chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau: Tên chính quy: Là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra: Long Ðỗ: Truyền thuyết kể rằng, lúc Cao Biền nhà Ðường, vào năm 866 mới đắp thành Ðại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Ðỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Ðỗ. Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời kinh đô về đất An Tôn, phủ Thanh Hoá. Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Nguỵ dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Ðỗ có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị (tức sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi”. Ðiều đó cho thấy, Long Ðỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.

Tống Bình: Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương Bắc thời Tuỳ (581-618), Ðường (618 – 907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tuỳ chúng mới chuyển đến Tống Bình.

Ðại La: Ðại La hay Ðại La thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh Ðô. Theo kiến trúc xưa, Kinh Ðô thường có “Tam trùng thành quách”: Trong cùng là Tử Cấm thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Ðại La thành. Năm 866 Cao Biền bồi đắp thêm Ðại La thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là thành Ðại La. Thí dụ trong Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết: “… Huống chi thành Ðại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất…” (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr 241). (Rồng bay lên). Ðây là cái tên có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong số các tên của Hà Nội. Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết lý do hình thành tên gọi này như sau: “Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010) vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra Kinh phủ thành Ðại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long” (Toàn thư, Tập I, H, tr 241).

Ðông Ðô: Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa hạ tháng 4 năm Ðinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương – TM) coi phủ đô hộ là Ðông Ðô” (Toàn thư Sđd – tr 192). Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử thần nhà Nguyễn chú thích: “Ðông Ðô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hoá là Tây Ðô, Thăng Long là Ðông Ðô” (Cương mục – Tập 2, H 1998, tr 700).

Ðông Quan: Ðây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của Việt Nam, chỉ được ví là “cửa quan phía Ðông” của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử cũ cho biết, năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở thành Ðông Ðô, đổi tên thành Ðông Quan. Sách Ðại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12 năm Mậu Tý (1408), Giản Ðịnh đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh thành Ðông Quan thì chắc phá được chúng” (Toàn thư Sđd – Tập 2, tr224). Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: “Mùa hạ, tháng 4 năm Ðinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi – TM) từ điện tranh ở Bồ Ðề, vào đóng ở thành Ðông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Ðại Việt đóng đô ở Ðông Kinh. Ngày 15 vua lên ngôi ở Ðông Kinh, tức là thành Thăng Long. Vì Thanh Hoá có Tây Ðô, cho nên gọi thành Thăng Long là Ðông Kinh” (Toàn thư – Sđd. Tập 2, tr 293).

Bắc Thành: Ðời Tây Sơn (Nguyễn Huệ – Quang Trung 1787 – 1802 – TM). Vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế – TM) nên gọi Thăng Long là Bắc thành”(Nguyễn Vinh Phúc – Trần Huy Bá – Ðường phố Hà Nội – H. 1979, tr 12).

Thăng Long: (Thịnh vượng lên). Sách Lịch sử thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế – TM), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyến làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong nhân dân toàn quốc, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành chữ “Long” là Thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” (Trần Huy Liệu (chủ biên). Lịch sử thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).

Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ hoàng thành cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng Long, mà hoàng thành Thăng Long lại lớn rộng quá.

Hà Nội: Sách Lịch sử thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hoà, phủ Lý Nhân VÀ phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ làm tỉnh lỵ của Hà Nội”. (Trần Huy Liệu (chủ biên). Lịch sử thủ đô Hà NỘI. H. 1960, TR 82).

Tên không chính quy: Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ… dùng để chỉ thành Thăng Long – Hà Nội:

Trường An (Tràng An): Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 tr CN – 8 sau CN) và Ðường (618 – 907). Do đó, được các nhà nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ kinh đô. Từ đó cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ kinh đô Thăng Long.

Thí dụ: Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An

Rõ ràng chữ Tràng An ở đây là để chỉ kinh đô Thăng Long. Phượng Thành (Phụng Thành):

Vào đầu thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú nôm rất nổi tiếng:

Phượng Thành xuân sắc phú (Tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng).

Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng thành hay Phượng thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ thành Thăng Long.

Long Biên: Vốn là nơi quan lại nhà Hán, Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều (thế kỷ III, IV, V và VI) đóng trị sở của Giao Châu (tên nước Việt Nam thời đó). Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long – Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 – 1877); ghi lại bài thơ của vua Tự Ðức viếng ông, có hai câu đầu như sau: Long Biên tài hướng Phượng thành hồi Triệu đối do hi, vĩnh biệt thôi!

Dịch nghĩa: Nhớ người vừa từ thành Long Biên về tới Phượng Thành. Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi và triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay.

Thành Long Biên ở đây, vua Tự Ðức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877 vua Tự Ðức triệu ông về kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất. Là tên viết tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc. Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Ðống Ða – Ngọc Hồi của vua Quang Trung. Sau chiến thắng xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long thành quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long thành). Là tên viết tắt của thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai?… : Ngay sau Cách mạng tháng Tám – 1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.

Ngoài ra, trong cách nói dân gian, còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long – Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ – Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ), Thượng Kinh, tên này để nói đất kinh đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh). Kinh Kỳ, tên này nói đất có kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến).

Và đôi khi chỉ dùng một từ kinh như ” ¡n Bắc, mặc Kinh”. Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ kinh đô Thăng Long.

Loại tên “không chính quy” của Thăng Long – Hà Nội còn nhiều được sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao… kể ra đây không hết được

Trên đất Thăng Long đã từng toạ lạc một toà Hoàng thành hoa lệ, trải suốt các triều Lý – Trần – Lê và được xây dựng lại thành toà trấn thành thời Nguyễn. Mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Ðại La và đổi tên là Thăng Long. Trải qua 8 thế kỷ, toà thành đã trở thành trung tâm chính trị và đô thị phồn thịnh nhất Ðại Việt. Cuối triều Lý, hoàng cung Thăng Long bị đốt cháy. Tới triều Trần, thành Thăng Long được xây dựng lại nhưng rồi lại bị lũ xâm lược Nguyên – Mông dày xéo, tàn phá. Sau khi đánh đuổi giặc Minh năm 1428, Lê Thái Tổ cho xây dựng lại Thăng Long và đổi tên là Ðông Ðô rồi Ðông Kinh… Vậy là, qua bao cuộc chiến tranh và cuối cùng là sự phá hoại của thực dân Pháp, toà thành cổ kính mang tên Thăng Long – Hà Nội gần như mất hết dấu vết, chỉ còn tồn tại trong hoài niệm của bao thế hệ người Hà Nội.

Năm 1998, Bộ Quốc phòng đã bắt đầu trao lại 3 khu vực Cửa Bắc, Hậu Lâu và Ðoan Môn cho Sở Văn hoá – Thông tin Hà Nội quản lý và tôn tạo nhằm phục vụ kỷ niệm Thăng Long – Hà Nội 990 và 1000 năm. Công tác khai quật khảo cổ học đã được khẩn trương tiến hành tại cả 3 nơi và đã cho nhiều kết quả bất ngờ, trả lời được nhiều vấn đề sau bao năm tranh luận nghiên cứu. Bắc Môn được xác định chính là Cửa Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn. Nơi đây được xem xét từng lớp dấu vết để phá dỡ những gì được vá víu từ thời Pháp thuộc, sửa sang tu bổ lại những gì vốn có của toà thành thời Nguyễn, xây lại vọng lâu trên cửa thành.

Lầu Tĩnh Bắc (Tĩnh Bắc Lâu) là một toà lầu xây phía sau cụm kiến trúc chính là Hành cung của Thành cổ Hà Nội. Tuy ở sau Hành cung nhưng lại là phía Bắc, xây với ý đồ phong thuỷ giữ yên bình phía Bắc Hành cung nên mới có tên là Tĩnh Bắc Lâu. Nơi đây còn có tên là Hậu Lâu (lầu phía sau), hoặc là Lầu Công chúa, bởi tương truyền xưa kia đây là lầu xây để công chúa ở mỗi khi theo vua đi tuần du. Tại Tĩnh Bắc Lâu, các nhà khảo cổ học đã khai quật một diện tích gần 200m2. Vách hố khai quật cho phép nhìn rõ một dòng nước vốn chảy qua đây, dưới lòng lạch có những hòn tảng kê chân cột, bên bờ có xếp 3 bậc đá mang vết cánh hoa sen. Di vật tìm thấy trong hố khai quật rất nhiều. Có gạch ngói của nhiều đời từ trước thời Lý cho đến thời Lê: Cạnh có chữ, ngói bò hình lá đề, hình rồng phượng, đồ gốm đủ loại, đủ thời…

Thế là sau gần 2 thế kỷ, nay một phần thành cổ Hà Nội lại được “hồi sinh”, mở cửa đón nhân dân thủ đô và cả nước vào thăm, đưa họ tìm lại về cội nguồn mảnh đất rồng bay qua bóng dáng của kinh thành cổ. Thành cổ là một trong mười công trình đầu tiên gắn biển Công trình trọng điểm kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội

Thành Ðại La là một kiến trúc vĩ đại, có đầu tiên ở trên đất này. La thành không phải là một tên riêng, chỉ có nghĩa là một bức thành lớn bao quanh một bức thành nhỏ ở bên trong. La thành có từ đời nhà Ðường bên Trung Quốc, những căn cứ của những đất đã chiếm được đều đắp hai lần thành, thành ngoài gọi là La thành.

Suốt cả thời kỳ Bắc thuộc (111 trước Công lịch đến 939 sau Công lịch), bọn vua quan phong kiến Trung Quốc sang xâm lược nước ta, đều đóng căn cứ địa ở mấy nơi bên tả ngạn sông Hồng, như Liên Lâu (Tiên Du, Bắc Ninh), rồi đến Long Biên (phía Bắc sông Ðuống). Ðến đời Ðường, thường có quân Chà Và ở ngoài bể tràn vào và quân Nam Chiếu ở mạn Vân Nam tràn xuống, kéo đến vây đánh phủ Ðô hộ; hơn nữa nhân dân không chịu nổi sự áp bức bóc lột của bọn xâm lược, cũng thường nổi lên chống đánh. Năm 824, Ðô hộ là Lý Nguyên Gia, tin theo thuyết phong thuỷ, cho rằng trước cửa thành Long Biên có dòng nước chảy ngược, nên nhân dân hay nổi lên “làm phản”. Lý Nguyên Gia bèn rời phủ trị sang địa phận huyện Tống Bình, gần sông Tô Lịch. Lúc đầu chỉ xây một toà thành nhỏ, sau đó nhận thấy nơi ấy có địa thế hiểm yếu, liền lập phủ trị vĩnh viễn ở đó, đắp rộng cao thêm thành, làm cho dân ta hồi đó phải phục dịch rất khổ sở.

Ðến năm 866, nhà Ðường đổi An Nam đô hộ phủ làm Tĩnh Hải quân, sai Cao Biền sang làm Tiết độ sứ. Cao Biền là một tướng có nhiều tài lược và mưu trí, đã dùng nhiều thủ đoạn để loè nạt dân chúng, như việc phá những thác ngầm ở dọc sông: đêm đến, hắn cho đục đá đặt thuốc nổ, làm nổ tung những thác ấy, rồi nói phao lên là vì trời giúp vua Ðường sai thiên lôi xuống phá thác, làm cho nhân dân sợ hãi. Muốn củng cố thêm căn cứ thống trị, Cao Biền cho đắp lại thành Ðại La, bốn mặt dài hơn 1.982 trượng linh 5 thước, cao 2 trượng linh 6 thước. Muốn ngăn ngừa không cho nước sông Tô, sông Hồng tràn vào phủ trị, Cao Biền lại cho đắp một đường đê bao bọc ở ngoại thành, dài hơn 2.125 trượng linh 8 thước, cao 1 trượng, dày 2 trượng, trong thành cho nhân dân làm nhà ở hơn bốn chục vạn nóc. Ðường đê bao ngoài thành gọi là Ðại La thành, cũng gọi là Ngoại La thành.

Với Cao Biền, ngày nay ở dân gian ta vẫn còn những truyền thuyết hoang đường, như nói Cao Biền thấy ở đất Giao Châu ta có nhiều kiểu đất đế vương, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét, rồi dùng phép thuật phá những nơi có hình thế sơn thuỷ đẹp, và chặn những đất có long mạch bằng cách đào những giếng khơi rất sâu. Vì vậy, ở nông thôn, làng nào có nhiều giếng khơi, người ta vẫn nói đó là giếng do Cao Biền đào ra. Lại như, mỗi khi thấy người nào yếu sức, tay chân cử động run rẩy, thường vẫn nói câu đã gần thành tục ngữ: “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”. Người ta giải thích là Cao Biền có phép thuật “tản đậu thành binh” nghĩa là mỗi khi cần có quân lính đi đánh dẹp, không cần mộ người chỉ cần rắc đậu vào một bãi đất, rồi ủ kín, đọc một trăm lần thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hoá thành một người lính. Có lần Cao Biền đọc thần chú còn thiếu, khi mở ra những hạt đậu đã thành lính nhưng đều còn non chưa đủ sức, đứng lên không vững. Lại còn chuyện nói Cao Biền đắp La thành, mấy lần bắt đầu đều bị sụt lở; một đêm Biền đứng trên vọng lâu nhìn ra, thấy một vị thần cưỡi ngựa trắng chạy đi, chạy lại như bay, rồi bảo cho Biền cứ theo vết chân ngựa chạy mà đắp thành. Vì vậy, sau khi đắp thành xong, Biền cho lập đền thờ vị thần ấy ở ngay nơi hiển hiện, gọi là đền Bạch Mã. Ðền thờ ngày nay vẫn còn ở phố Hàng Buồm.

Từ năm 939, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, nước ta bắt đầu độc lập tự chủ, nhưng đời Ngô Vương Quyền lại đóng đô ở Cổ Loa, hai đời Ðinh, Lê thì đóng đô ở Hoa Lư, thành Ðại La trở nên hoang phế. Mãi đến năm 1010, Lý Thái Tổ mới dời kinh đô đến đó, nhưng lại đắp một thành khác nhỏ hẹp hơn gọi là thành Thăng Long. Nền cũ của thành Ðại La, phần lớn không còn lại dấu vết, chỉ còn nhận thấy những khoảng từ Thanh Nhàn (giáp Thanh Trì) đi lên cửa ô Cầu Dền sang ô Chợ Dưà, rồi thẳng đến ô Cầu Giấy, ngược lên đến làng Bưởi. Năm kia, ta đã cho theo dấu cũ ấy, sửa chữa lại nhiều nơi, đắp cao lên làm thành thân đê, đề phòng nạn lụt. Còn phần đê La Thành về phía sông Hồng, từ đời Lý đã nhập vào với đê Cơ Xá, và từ đời Trần đã nhập vào với đê Quai Vạc, chuyên ngăn nước sông Hồng.

Ðê Ðại La thành này khi còn độc lực giữ việc chống nước lụt cho nội thành, thường bị sạt lở. Năm 1243, đời vua Thái Tôn nhà Trần, nước sông Hồng lên to quá, phá vỡ một đoạn thân thành, làm cho nội thành bị ngập lụt. Cũng từ đó, các đời vua Trần mới nghĩ đến việc đắp đê quai vạc suốt từ đầu nguồn trở xuống cho đến miền bể, dọc hai bên bờ sông Hồng.

Bài thơ ” Ðiếu cổ La thành” của nhà thơ Tế Xuyên, đời cuối Lê đã mai mỉa dã tâm xâm lược của Cao Biền, tốn công, nhọc lòng đắp nên thành ấy, kết cục bọn phong kién thống trị Trung Quốc đều phải diệt vong. Sau chiến công trên sông Bạch Ðằng năm 939, nước ta hoàn toàn tự chủ. Bài thơ đại ý như sau: “Ðại La thành tốn công xây, Cao Biền tưởng chiếm đất này dài lâu. Nào ngờ mấy chục năm sau, Vùi quân xâm lược dòng sâu Bạch Ðằng”

(sưu tầm)

Ý Nghĩa Tên Hà Linh Là Gì? Phán Vận Mệnh Tên Hà Linh Tốt Hay Xấu

Ý nghĩa tên Hà Linh là gì? Giải thích ý nghĩa tên Hà Linh theo Hán Việt

Ý nghĩa tên Hà Linh là gì? Theo nghĩa Hán Việt, Hà có nghĩa là sông, Linh có nghĩa là ứng nghiệm. Tên Hà Linh để chỉ dòng sông đẹp, ứng nghiệm những điều mong ước tốt lành của con người. Tên này đặt cho bé với ý nghĩa mong con luôn xinh đẹp, gặp may mắn như những lời cầu chúc của cha mẹ trên dòng sông.

Luận giải vận mệnh tên Hà Linh tốt xấu qua ngũ cách

Tên Hà Linh có ý nghĩa gì, tốt hay xấu? Để giải quyết vấn đề này, chúng mình đã tìm hiểu, luận giải vận mệnh tên Hà Linh qua ngũ cách bao gồm: thiên cách, địa cách, nhân cách, ngoại cách và tổng cách trước khi đưa ra kết luận tên tốt, xấu.

Thiên cách

Thiên Cách đại diện cho mỗi quan hệ giữa chủ thể với bề trên như ông bà, cha mẹ, các bậc tiền bối. Thiên cách là đại diện cho mối quan hệ giữa mình và cha mẹ, ông bà và người trên. Thiên cách thể hiện khí chất của người đó đối với người khác và đại diện cho vận thời niên thiếu trong đời.

Thiên cách tên Hà Linh là Hà, tổng số nét là 8 và thuộc hành Âm Kim. Do đó Thiên cách tên Hà Linh thuộc vào quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG (Vừa tốt vừa xấu). Đây là quẻ nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

Địa cách

Trái với Thiên cách, Địa cách đại diện cho mối quan hệ giữa chủ thể với bề dưới như vợ, con cháu, những người nhỏ tuổi hơn mình. Không những thế, địa cách còn biểu thị ý nghĩa cát hung ở tiền vận (tức là trước 30 tuổi).

Xem ý nghĩa tên Hà Linh theo địa cách xấu hay tốt? Địa cách tên Hà Linh là Linh, tổng số nét là 6 thuộc hành Âm Thổ. Do đó địa cách sẽ thuộc vào quẻ CÁT ( TỐT). Đây là quẻ nhân tài đỉnh thịnh, gia vận hưng long, số này quá thịnh, thịnh quá thì sẽ suy, bề ngoài tốt đẹp, trong có ưu hoạn, cần ở yên nghĩ nguy, bình đạm hưởng thụ, vinh hoa nghĩ về lỗi lầm.

Nhân cách

Nhân cách chính là nguồn gốc tạo vận mệnh, tính cách, công danh sự nghiệp, tình duyên, năng lực, sức khỏe của gia chủ. Nhân cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Muốn tính được Nhân cách thì ta lấy số nét chữ cuối cùng của họ cộng với số nét chữ đầu tiên của tên.

Nhân cách tên Hà Linh là Hà Linh do đó có số nét là 12 thuộc hành Âm Mộc. Như vậy nhân cách sẽ thuộc vào quẻ HUNG (XẤU). Đây là quẻ nhân tài đỉnh thịnh, gia vận hưng long, số này quá thịnh, thịnh quá thì sẽ suy, bề ngoài tốt đẹp, trong có ưu hoạn, cần ở yên nghĩ nguy, bình đạm hưởng thụ, vinh hoa nghĩ về lỗi lầm.

Ngoại cách

Ngoại cách là đại diện mối quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài như bạn bè, người ngoài, người bằng vai phải lứa và quan hệ xã giao với người khác. Ngoại cách ám chỉ phúc phận của thân chủ hòa hợp hay lạc lõng với mối quan hệ thế giới bên ngoài. Ngoại cách được xác định bằng cách lấy tổng số nét của tổng cách trừ đi số nét của Nhân cách.

Tên Hà Linh có ngoại cách là Linh nên tổng số nét hán tự là 6 thuộc hành Âm Thổ. Do đó ngoại cách tên Hà Linh thuộc quẻ CÁT (TỐT). Thiên đức địa tường đầy đủ, tài lộc phúc thọ dồi dào, suốt đời yên ổn giàu sang, trở thành đại phú. Nhưng vui vẻ quá trớn e rằng quá vui sẽ buồn, nên thận trọng; có đức thì hưởng phúc.

Tổng cách

Tổng cách là chủ vận mệnh từ trung niên từ 40 tuổi trở về sau, còn được gọi là “Hậu vận”. Tổng cách được xác định bằng cách cộng tất cả các nét của họ và tên lại với nhau.

Do đó tổng cách tên Hà Linh có tổng số nét là 12 sẽ thuộc vào hành Âm Mộc. Do đó tổng cách sẽ thuộc quẻ Bạc nhược tỏa chiết là quẻ HUNG. Đây là quẻ người ngoài phản bội, người thân ly rời, lục thân duyên bạc, vật nuôi sinh sâu bọ, bất túc bất mãn, một mình tác chiến, trầm luân khổ nạn, vãn niên tối kỵ.

Như vậy, thông qua đánh giá về ngũ cách, tên Hà Linh được đánh giá ở mức trung bình (không xấu cũng không quá tốt). Dựa vào thông tin trên, hi vọng các bậc phụ huynh đã nắm được điểm mạnh, yếu trong ý nghĩa tên Hà Linh của con mình để phát triển hay kìm hãm tốt xấu giúp con có cuộc đời bình an, may mắn.

Cội Nguồn Tên Gọi “Hà Nội

Trong hội thảo “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không – tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” do bộ Quốc phòng tổ chức ngày 28/11 vừa qua, chúng tôi may mắn có cơ hội được tiếp xúc với ông Hà Đăng bên lề cuộc hội thảo. Ông Đăng nguyên là người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị 4 bên tại Paris, nguyên UVTƯ Đảng, trưởng ban Tư tưởng Văn hóa TƯ. Khi được hỏi về những ngày tháng lịch sử không thể quên của dân tộc cuối năm 1972, ông Đăng không khỏi xúc động. Qua câu chuyện, tình cờ chúng tôi mới biết thêm những điều mà trước nay, ngay chính cả người Việt cũng vẫn còn ngộ nhận về tên gọi của trận chiến.

Khẩu đội pháo cao xạ bảo vệ bầu trời Hà Nội.

“Khi đang tham gia đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris những ngày cuối cùng của năm 1972, chúng tôi từng nghe thấy trên báo chí và trong lời nói của bạn bè thế giới cụm từ “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và “Hà Nội, lương tri và phẩm giá con người”. Chúng tôi rất thích thú, tự hào và còn tưởng rằng các nhà báo nước ngoài đã sáng tạo ra tên gọi đã đi vào lịch sử này. Nhưng sau này tôi mới được biết chính người Việt Nam đã sáng tạo ra tên gọi nổi tiếng khắp năm châu này”, ông Đăng nói.

Không chỉ ông Hà Đăng, những người đã sống và chiến đấu trực tiếp chỉ huy trong trận chiến 12 ngày đêm liên tục ở Thủ đô như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhạc sĩ Phạm Tuyên, nhà báo Hữu Thọ… cũng không ngờ chính mình lại là những người đầu tiên đã đặt ra một cái tên đi vào lịch sử.

Chia sẻ câu chuyện thú vị rằng ai là tác giả của tên gọi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã được nhắc đến trên các sách, báo, các đài phát thanh, đài truyền hình của nhiều nước trên thế giới suốt 40 năm qua, nhạc sĩ Phạm Tuyên, tác giả của ca khúc nổi tiếng viết về trận chiến 12 ngày đêm lịch sử có tên gọi Hà Nội- Điện Biên Phủ kể lại:

“Tháng 12/1972, Đế quốc Mỹ chủ trương đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá, khởi đầu bằng việc sử dụng một lực lượng không quân dữ dội buộc Hà Nội đầu hàng. 4h sáng ngày 19/12, Đài phát sóng lớn nhất của ta ở Mễ Trì, Hà Nội bị địch đánh sập. Ngày 20/12, địch tiếp tục ném bom Đài phát sóng ở Bạch Mai. Bộ đội phòng không ta đánh trả quyết liệt. Đêm 26/12, bộ đội ta bắn rơi 8 chiếc B52. Trong không khí hồ hởi, ngay sáng hôm sau (27/12), tại phòng Giao ban của Đài Tiếng nói Việt Nam, tổng giám đốc Trần Lâm thông báo: Đêm qua bộ đội ta bắn rơi 8 máy bay B52, riêng Hà Nội đã hạ 5 pháo đài bay. Từ Sở chỉ huy tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lời kêu gọi: “Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Nhưng, chúng vẫn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B52 hơn nữa, hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn Điện Biên Phủ ngay trên bầu trời Hà Nội, thủ đô thân yêu của chúng ta””.

Chính lời nói của Đại tướng đã truyền cho nhạc sĩ Phạm Tuyên niềm xúc động sâu sắc. Vậy là ngay đêm hôm đó, trong căn hầm của Đài Tiếng nói Việt Nam giữa lòng thủ đô rực lửa chiến đấu, những nốt nhạc, những lời ca hùng tráng tuôn chảy trên trang giấy dưới ngòi bút của người nhạc sĩ trẻ. Bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ đã ra đời giữa mùi khói bom của trận chiến oanh liệt.

“Khi nghe chữ Điện Biên Phủ, tôi có cảm giác rất khác và ngay đêm hôm ấy, ngồi trong hầm tôi viết bài Hà Nội – Điện Biên Phủ. Âm điệu trong bài hát không du dương mà quyết liệt bởi tôi muốn tỏ cho đế quốc Mỹ biết Hà Nội quyết liệt như thế nào” – nhạc sĩ Phạm Tuyên xúc động kể lại.

“Sáng hôm sau, Trần Lâm hỏi tôi sao đêm hôm qua làm gì mà hí hoáy mãi thế, thì tôi có đưa anh xem bài hát tôi vừa viết. Anh bảo: “Bài này quyết liệt đấy. Đúng là Điện Biên Phủ trên không. Anh còn nói phải đưa bài này đến báo Nhân dân để in. Thế là sáng ấy, vừa dứt đợt báo động, đường phố còn vắng teo, tôi đạp xe đến tòa soạn báo Nhân dân ở phố Hàng Trống nhưng lúc đó báo Nhân dân cũng đã đi sơ tán.

Tôi thấy anh Thép Mới lúc đó là phó tổng biên tập và anh Hữu Thọ đang ngồi dưới gốc cây đa chỗ Hàng Trống, các anh yêu cầu tôi hát cho các anh nghe bài hát đó. Nghe tôi hát xong các anh cùng đồng thanh nói báo Đảng nhất định phải đăng bài hát này. Nhưng bài này tôi viết tay nên các anh động viên tôi nhờ người chép lại cho sạch sẽ để báo lên khuôn, in ngay trong ngày hôm sau, cùng với chuyên mục mới Hà Nội – Điện Biên Phủ. Tôi nhờ người trực cùng hôm đó là anh Phan Nhân, vốn chép nhạc rất đẹp chép lại. Thế là bản nhạc được gửi gấp sang báo Nhân dân và sáng 29/12, tôi rất cảm động khi thấy bản nhạc đã được in trang trọng trên báo, giữa lúc địch còn chưa chấm dứt cuộc leo thang đánh phá”.

Dẫu bom địch ném vào khu nhà nhạc sĩ ở, chiếc dương cầm của ông bị hỏng, tủ sách ông yêu quý bị cháy nhưng ngay sáng ngày 28/12, trên ghế đá, dưới gốc cây đa ở trụ sở báo Nhân dân phố Hàng Trống, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã hát vang Hà Nội – Điện Biên Phủ cho nhà báo Hữu Thọ và phó tổng biên tập báo Nhân dân lúc bấy giờ là Thép Mới nghe để rồi bài hát được đăng trên báo Nhân dân ngay sáng hôm sau. Cũng chính trong tối ngày 29/12 ấy, mặc cho tiếng còi báo động rền vang, bài hát đã được nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng các nhạc sĩ Trần Thụ, Mạnh Hà thể hiện trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam trong chương trình Tiếng hát gửi về Nam. Để rồi những ngày sau đó nó được tung đi muôn phương, đến với bạn bè năm châu, bốn biển.

Qua lời kể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, có thể đi đến một giả thiết, phải chăng chính lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn Điện Biên Phủ ngay trên bầu trời Hà Nội và tên bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ cũng như lời trong bài hát này: “Một Điện Biên Phủ nay vùi mộng xâm lăng, Hà Nội ơi là gợi ý đầu tiên cho sự ra đời của cụm từ đặc biệt Điện Biên Phủ trên không nổi tiếng khắp trong nước và quốc tế suốt 40 năm qua”.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên trò chuyện với PV trong cuộc gặp mặt báo chí cuối tháng 10 tại Hội nhạc sĩ Việt Nam.

Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi cụm từ đặc biệt này xuất hiện lần đầu tiên trên báo nào, đài nào, nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết, các cán bộ của Bảo tàng Quân chủng Phòng không Không quân đã phải lật từng trang báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Hà Nội Mới phát hành trong những ngày tháng hào hùng cuối năm 1972, đầu năm 1973 ấy để tìm ra đáp số. Chính là báo Nhân dân đã là tờ báo đầu tiên dùng cụm từ này.

Trong số ra ngày 29/12/1972, bên cạnh bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ” của nhạc sĩ Phạm Tuyên, ở trang 2 có một dòng chữ “Hà Nội đang thắng một trận Điện Biên Phủ trên không”. Cũng chính từ lần xuất hiện đầu tiên này trên tờ báo Nhân dân, tên gọi đặc biệt, đầy hình ảnh và ý nghĩa này đã lập tức được làng báo trong nước và phương Tây hưởng ứng để từ đó đến nay, 40 năm đã trôi qua nó vẫn được nhắc tới trên các phương tiện truyền thông của nhiều nước trên thế giới như một chiến thắng oanh liệt của nhân dân Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung.

Câu chuyện thú vị về nguồn gốc của cụm từ đặc biệt này, ông Hà Đăng cũng cho rằng chính báo Nhân dân là tờ báo đầu tiên sử dụng cụm từ trên. Ông Hà Đăng khẳng định: “Thật ra, tại Hà Nội, ngay dưới căn hầm trú ẩn của báo Nhân dân tại số 71 Hàng Trống, phó tổng Biên tập Thép Mới đã sáng tạo ra cụm từ này. Ông Hà Đăng cho biết, điều này đã được khẳng định trong Hồi ký của Thép Mới: “Đặc biệt sau đêm chiến thắng rực rỡ 26/12/1972, báo ra sáng 28/12, chúng ta ra lời kêu gọi bạn đọc viết cho mục Hà Nội – Điện Biên Phủ, sáng tạo ra thành ngữ Điện Biên Phủ trên không”.