Ý Nghĩa Tên Nước Đại Cồ Việt / 2023 / Top 19 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Eduviet.edu.vn

Bài 9. Nước Đại Cồ Việt Thời Đinh / 2023

LỊCH SỬ 7Kiểm tra bài cũCâu 1:Nhà Đinh xây dựng đất nước như thế nào? Ý nghĩa việc đặt tên nước là Đại Cồ Việt?Câu 2:Hoàn cảnh ra đời nhà tiền Lê? Tổ chức bộ máy nhà tiền Lê?BÀI 9NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT THỜI ĐINH-TIỀN LÊII. SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾVÀ VĂN HÓA1. Bước đầu xây dựng nền kinh tế tự chủNông nghiệp: Em hãy trình bày tình hình nông nghiệp nước ta thời Đinh- Tiền Lê?Thế nào là cày tịch điền? Ý nghĩa của việc cày tịch điền?

Con trâu có bức tranh trên mình được đánh giá là đẹp nhất sẽ dùng để nhà vua đi cày trong lễ tịch điền

Vua là người xuống ruộng cày 3 sá ruộng đầu tiên

Nhà vua với áo bào, tay cày, tay roi xua trâu cày miết

1. Bước đầu xây dựng nền kinh tế tự chủNông nghiệpChia ruộng đất cho dân cày cấyKhuyến khích khai hoangChú trọng thủy lợiTrồng dâu nuôi tằm

Đồng Tiền thứ 2 đồng Thiên Phúc Trấn Bảo của Lê Đại Hành đúc khỏang 986- 1009

blog.360.yahoo.com/blog-Kw82jxwzd6dwviHG3r4R7…c. Thương nghiệp– Đúc tiền đồng; nhiều trung tâm buôn bán,chợ được hình thành.– Buôn bán với nước ngoài2. Đời sống xã hội và văn hóaTrong xã hội thời Đinh-Tiền Lê có những tầng lớp nào?a. Xã hộiTầng lớp thèng trÞTầng lớp bị trịSơ đồ các tầng lớp trong xã hội.VuaQuan vănQuan võNhà sưNông dânThợ thủ côngThương nhânĐịa chủNô tìb. Văn hóaTình hình giáo dục, tôn giáo thời Đinh-Tiền Lê như thế nào ? Giáo dục chưa phát triển– Phật giáo được truyền bá rộng rãiVăn hóa dân gian khá phát triểnDo đạo phật phát triển,được truyền bá rộng rãi,các nhà sư có học ,giỏi chữ Hán,nhà sư trực tiếp dạy học,làm cố vấn ngoại giao và họ rất được trọng dụng .Một số nhà sư giỏi như sư Đỗ Thuận ,Vạn Hạnh…Chùa Nhất Trụ ở xã trường Yên Đền thờ vua LêCủng cốQuốc hiệu nước ta thời Đinh-Tiền Lê là gì?Đại ViệtĐại Cồ ViệtVạn XuânĐại Ngu2. Trong xã hội thời Đinh-Tiền Lê tầng lớp tận cùng trong xã hội là:Nông dânĐia chủThợ thủ côngNô tìDẶN DÒHỌC BÀIXEM TRƯỚC BÀI 10

Bài 9: Nước Đại Cồ Việt Bai 9 Nuoc Dai Co Viet Thoi Dinh Tien Le Ppt / 2023

Bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền LêI. Tình hình chính trị, quân sự1. Nhà Đinh xây dựng đất nước – Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế (Dinh Tiờn Ho�ng), đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.– Em hãy giải thích từ “Hoàng đế” ?Vua một nước lớn mạnh, được các nước khác thần phục. – Việc vua Đinh Tiên Hoàng xưng Hoàng đế có ý nghĩa gì? Khẳng định nước ta có nền độc lập tự chủ và Hoàng đế nước Nam phải sánh ngang với Hoàng đế phương Bắc.– Em hiểu gì về tên nước Đại Cồ Việt ? Nước Việt lớn.– Tại sao Đinh Tiên Hoàng lại đóng đô ở Hoa Lư ?Bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê– Hoa L­ lµ quª h­¬ng cña §inh Bé LÜnh.– §Þa h×nh hÑp, nhiÒu ®åi nói thuËn lîi cho viÖc phßng thñ.1. Nhà Đinh xây dựng đất nước – Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.Bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền LêI. Tình hình chính trị, quân sự– Năm 970 vua Đinh đặt niên hiệu riêng là Thái Bình.Nhằm khẳng định người Việt có giang sơn, bờ cõi riêng; nước Đại Cồ Việt độc lập và ngang hàng với Trung Quốc chứ không phải là nước phụ thuộc.– Tại sao vua Đinh sai sứ sang giao hảo với nhà Tống?Mong muốn giữ vững mối quan hệ hoà bình với các nước láng giềng.– Việc nhà Đinh đặt tên nước, bỏ niên hiệu của Trung Quốc và đặt niên hiệu riêng đã nói lên điều gì?

Bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền LêBài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê1. Nhà Đinh xây dựng đất nước – Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.I. Tình hình chính trị, quân sự– Năm 970 vua Đinh đặt niên hiệu riêng là Thái Bình.Phong vương cho con, cử tướng lĩnh nắm giữ chức vụ chủ chốt Dựng cung điện, đúc tiền, xử phạt nghiêm với kẻ phạnm tội.– Những việc làm của vua Đinh Tiên Hoàng có ý nghĩa gì?Làm cho nhân dân ta có cuộc sống độc lập và hoà bình để lao động sản xuất; thế nước hưng thịnh; là cơ sở, nền tảng để xây dựng và phát triển đất nước, chiến thắng kẻ thù, bảo vệ vững chắc nền độc lập.Bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền LêBài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê1. Nhà Đinh xây dựng đất nướcI. Tình hình chính trị, quân sự2. Tổ chức chính quyền thời Tiền Lê– Năm 979, Đinh Tiên Hoàng v� con trai l� Dinh Li?n bị ám hại.– Hãy nhận xét về nội bộ triều đình sau khi vua Đinh Tiên Hoàng bị ám hại?Nội bộ triều đình lục đục.

Bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền LêBài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê1. Nhà Đinh xây dựng đất nướcI. Tình hình chính trị, quân sự2. Tổ chức chính quyền thời Tiền Lê Năm 979, vua Đinh Tiên Hoàng bị ám hại.

Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế.Đinh Bộ Lĩnh qua đời.Lê Hoàn được suy tôn làm vua.Cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi.Bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê Bài tập 2. Chọn chữ Đ(đúng) hoặc S(sai) vào đầu mỗi phương án: Đinh Bộ Lĩnh chọn Đại La để làm đất đóng đô.Bộ máy chính quyền trung ương thời Tiền Lê chặt chẽ, quy củ hơn thời Ngô.Vì lợi ích của quốc gia dân tộc, Thái hậu Dương Vân Nga đã trao ngôi báu cho Lê Hoàn.Lê Hoàn được suy tôn làm vua do có công lao giúp Đinh Liễn dẹp “Loạn 12 sứ quân”.

SĐĐSBài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền LêBài tập 3. Chọn chữ thích hợp để điền vào chỗ .? “Đây là cuộc kháng chiến chống…..của chính quyền ….còn non trẻ. Thắng lợi này không những biểu thị ý chí quyết tâm chống ngoại xâm của….. mà còn chứng tỏ một bước phát triển của….và khả năng bảo vệ ……….của Đại Việt.”ngoại xâm độc lậpquân dân tađất nướcđộc lập dân tộc

Bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền LêHướng dẫn về nhà:Học thuộc bài theo các mục trong SGK.Sưu tầm những tài liệu về nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê.Tập vẽ sơ đồ tổ chức chính quyền thời Tiền Lê.Chuẩn bị tiếp mục II của bài học.Tiết học của chúng ta đã kết thúc.Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo và các em học sinh

Ý Nghĩa Sự Ra Đời, Vị Trí Và Vai Trò Của Nhà Nước Đại Cồ Việt (Thời Đinh) Trong Tiến Trình Lịch Sử Dân Tộc / 2023

Ra đời trong đấu tranh dẹp loạn, Nhà nước Đại Cồ Việt do Đinh Bộ Lĩnh sáng lập, xuất hiện trên vũ đài lịch sử với ngọn cờ thống nhất đất nước. Mặc dù chỉ kéo dài 12 năm (968 – 980), trải qua 02 đời vua, nhưng trong quá trình tồn tại, bằng tổ chức quản lý và hoạt động cụ thể, Nhà nước Đại Cồ Việt thời Đinh đã có những đóng góp lớn lao về mọi mặt, giữ vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Một là

, Nhà nước Đại Cồ Việt ra đời vào năm 968 đã chấm dứt tình trạng phân tán, cát cứ kéo dài, mà “loạn 12 sứ quân” chỉ là một hiện tượng điển hình; cùng với đó, quốc gia dân tộc được thống nhất với cương vực lãnh thổ riêng.

, Nhà nước Đại Cồ Việt ra đời vào năm 968 đã chấm dứt tình trạng phân tán, cát cứ kéo dài, mà “loạn 12 sứ quân” chỉ là một hiện tượng điển hình; cùng với đó, quốc gia dân tộc được thống nhất với cương vực lãnh thổ riêng.

Tình trạng phân tán với xu hướng tách khỏi sự ràng buộc của bộ máy quản lý nhà nước tập trung chính là di sản nặng nề do quá khứ để lại, buộc dân tộc ta vào thế kỷ X phải từng bước loại trừ để cùng nhau tồn tại và phát triển. Vì vậy, sự xuất hiện của Đinh Bộ Lĩnh với vai trò dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, thành lập Nhà nước Đại Cồ Việt là một cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của quốc gia dân tộc. Nhà nước Đại Cồ Việt thời Đinh, từ quá trình ra đời đã giáng một đòn quyết định, chặn đứng mọi âm mưu chia rẽ đất nước của các thế lực phân tán tồn tại dai dẳng từ trước, hướng tới thống nhất, tập quyền, phù hợp với yêu cầu của lịch sử. Đồng thời, Nhà nước Đại Cồ Việt thời Đinh đại diện cho lợi ích và sức mạnh của cộng đồng các giáp, xã… tượng trưng cho sự đoàn kết, tập hợp các lực lượng vì mục đích độc lập, tự chủ và thống nhất.

Đây là thành tựu được các sử gia nhìn nhận và đánh giá rất cao. Thậm chí, đối với sử gia phong kiến, vấn đề “thống nhất quốc gia” còn là một tiêu chí để xem xét tính “chính thống” của một triều đại. Chính vì vậy, sự kiện thành lập Nhà nước Đại Cồ Việt được coi là mở nền chính thống cho thời đại phong kiến độc lập, tự chủ của dân tộc ta (“chính thống thủy”). Do đó, các bộ chính sử, từ Đại Việt sử ký toàn thư (thế kỷ XV), Đại Việt sử ký tiền biên (thếkỷ XVIII) đến Khâm định Việt sử thông giám cương mục (thế kỷ XIX) đều xác định: Triều đại nhà Đinh với sự thành lập Nhà nước Đại Cồ Việt là mốc mở đầu phần Bản kỷ hoặc Chính biên.

Hai là, với việc thiết lập triều đình riêng do một hoàng đế đứng đầu, có niên hiệu riêng, quản lý một lãnh thổ riêng biệt, sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Đại Cồ Việt chính là sự khẳng định mạnh mẽ nền độc lập, tự chủ của đất nước vừa mới được khôi phục sau một thiên niên kỷ lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc.

Đối với Việt Nam, một nước nhỏ bé ở bên cạnh một đế chế hùng mạnh, rộng lớn như Trung Hoa, thì việc đặt tên nước, xưng đế hiệu, định niên hiệu mang một ý nghĩa lớn về ý thức tự tôn, tự cường dân tộc.

Trong lịch sử dân tộc, trước Đinh Tiên Hoàng, có 2 vị vua nổi dậy khởi nghĩa thời kỳ Bắc thuộc, khi thành công cũng xưng Đế. Đó là Lý Bí, sử gọi là Lý Nam Đế (544-548) và Mai Thúc Loan, sử gọi là Mai Hắc Đế (713-722); tuy nhiên, ngay sau đó, đấtnước ta lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Tiếp đó, vào những thập niên đầu thế kỷ X, kể từ Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ đến Ngô Quyền, mặc dù đã giành được quyền tự chủ, nhưng để giữ sự hòa hiếu với phương Bắc, chỉ xưng là Tiết độ sứ hoặc xưng Vương.

Do đó, việc đặt quốc hiệu “Đại Cồ Việt”, rồi xưng đế (được bề tôi dâng tôn hiệu “Đại Thắng Minh Hoàng Đế”) thể hiện một cách rõ ràng ý đồ của Đinh Bộ Lĩnh khi so sánh, đặt mình ngang với các Hoàng đế Trung Hoa; phủ nhận những tên gọi nước ta trước đó mà triều đình phong kiến phương Bắc đặt cho, như: An Nam, Giao Châu… Tiếp đó, việc Đinh Tiên Hoàng bỏ không dùng niên hiệu của các Hoàng đế Trung Hoa nữa, định niên hiệu mới là Thái Bình (năm 970) mang một ý nghĩa lớn lao; biểu hiện ý chí độc lập, tự chủ, không muốn lệ thuộc vào Trung Quốc ngày đó.

Như vậy, với việc đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, xưng Hoàng đế và định niên hiệu là Thái Bình, một lần nữa khẳng định sự tự tin vào sức mạnh dân tộc, khát vọng về một đất nước thái bình, hưng thịnh của vua Đinh Tiên Hoàng.

Ba là, Nhà nước Đại Cồ Việt (thời Đinh) với tổ chức bộ máy, chính sách đối nội, đối ngoại tuy sơ khai nhưng đã mở ra một thời kỳ mới về tổ chức quản lý đất nước trong lịch sử dân tộc – thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ lâu dài với sự nối tiếp nhau của các nhà nước quân chủ trung ương tập quyền.

Trước Nhà nước Đại Cồ Việt, lịch sử nước ta đã ghi nhận sự xuất hiện của nhà nước sơ khai thời Văn Lang – Âu Lạc, lại có các nhà nước tồn tại ngắn ngủi trong thời kỳ đấu tranh chống Bắc thuộc như: Nhà nước của Trưng Nữ Vương, nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế, rồi các chính quyền tự chủ của họ Khúc, họ Dương, họ Ngô. Nhưng phải đến khi Nhà nước Đại Cồ Việt được ra đời, một thời kỳ mới về tổ chức quản lý đất nước mới được khai mở.

Với việc tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ gồm một đội ngũ quan lại có phân công, phân nhiệm rành mạch và việc chia đất nước thành các đơn vị hành chính mới, Nhà nước Đại Cồ Việt là một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền độc lập, tự chủ, hòa hợp và mở rộng, gắn bó với cộng đồng giáp, xã; đối ngoại mềm dẻo trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của dân tộc. Trên cơ sở ban đầu đó, các vương triều sau còn phải tiến hành sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh và củng cố cho phù hợp với sự phát triển của đất nước trong quá trình hình thành và xác lập chế độ phong kiến loại hình phương Đông ở nước ta.

Hơn nữa, bằng những hoạt động đối nội và đối ngoại phù hợp, Nhà nước Đại Cồ Việt đã đưa lịch sử nước ta vào một bước phát triển mới chưa từng có (so với trước đó), khôi phục lại thế đứng hiên ngang cho đất nước, cho dân tộc. Nhờ vậy, từ đây, đất nước của cộng đồng các dân tộc Việt, bằng sức sống bền bỉ và năng động của mình đã vươn lên mạnh mẽ, đủ sức chống chọi với mọi âm mưu và hành động xâm lược của giặc ngoại xâm, giữ một vị trí quan trọng trong khu vực trước những biến động lớn đã từng xảy ra và còn tiếp diễn ở nhiều thế kỷ sau này.

Như vậy, kể từ thế kỷ X, trên hành trình lịch sử Đại Cồ Việt – Đại Việt – Đại Nam – Việt Nam, Nhà nước Đại Cồ Việt (thời Đinh) mãi mãi xứng đáng với vị trí mở đầu cho thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc. Như lời sử thần Lê Tung trong Việt giám thông khảo tổng luận nhận định: “Đinh Tiên Hoàng nhân khi nhà Ngô loạn lạc, dẹp được 12 sứ quân, trời cho người theo, thống nhất bờ cõi… sang chế triều nghi, định lập quân đội. Vua chính thống của nước Việt ta thực bắt đầu từ đấy…”. Hay, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Lịch sử nước Nam ta” cũng dành cho Đinh Tiên Hoàng nói riêng, Nhà nước Đại Cồ Việt (thời Đinh) nói chung những lời tốt đẹp:

“Đến hồi thập nhị sứ quân

Bốn phương loạn lạc muôn dân cơ hàn

Động Hoa Lư, cõi Tiên hoàng

Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh

Ra tài kiến thiết kinh dinh”.

Theo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy (còn nữa)

Tên Nước ‘Đại Ngu’ Có Nghĩa Là Gì? / 2023

Hồ Quý Ly (1336 – 1407) là người tài giỏi, học thức. Theo Kiến thức, từ tháng 3 năm 1400, sau khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền, Quốc hiệu Đại Việt của dân tộc Việt đã được đổi thành Đại Ngu.

Chữ “Ngu” trong quốc hiệu “Đại Ngu” của nhà Hồ có nghĩa là “sự yên vui, hòa bình”. “Đại Ngu” có thể hiểu là ước vọng về một sự bình yên rộng lớn trên khắp cõi giang sơn.

Lịch sử đã ghi nhận những nỗ lực to lớn của nhà Hồ để hiện thực hóa mong muốn này.

Xuất thân là một quý tộc Trần thuộc dòng ngoại thích có quyền lực và có tham vọng lớn, lại là người có tư tưởng cách tân, thấy được vận nước đã suy, Hồ Quý Ly đứng ra đảm nhận sứ mạng thay đổi tình thế. Chính vì vậy vừa bước chân vào trường chính trị, ông đã chú ý ngay đến việc cải cách quốc gia trên mọi phương diện. Gần 30 năm tham gia triều chính dưới triều Trần và 7 năm đứng đầu đất nước, ông đã tìm mọi biện pháp nhằm xây dựng lực lượng, bảo vệ vương quyền và chấn hưng quốc gia. Có thấy hết tình trạng đất nước đầy khó khăn hồi cuối thế kỷ XIV, có xem hết thực chất những chương trình cải cách của họ Hồ kể từ năm 1374, thì mới hiểu hết những nỗ lực chính đáng của Hồ Quý Ly đã cố gắng rất nhiều và rất có thiện chí đưa đất nước đến chỗ hùng mạnh để củng cố quyền lực, chống thù trong, giặc ngoài.*

Hồ Quý Ly đã thực hiện những cải cách thiết chế chính trị xã hội và hệ tư tưởng phong kiến với các biện pháp cụ thể như: Phát triển đội ngũ quan lại phong kiến quan liêu thay thế dần phong kiến quý tộc, giảm thiểu việc phát triển chùa chiền, không biệt đãi và đưa nhiều tôn thất họ Hồ vào bộ máy nhà nước nhằm đề cao tác dụng và trách nhiệm của hệ thống phong kiến quan liêu.

Trên bình diện kinh tế – xã hội, Hồ Quý Ly cũng đưa ra nhiều biệp pháp cải tổ. Năm 1379, ông ban hành chính sách “hạn điền” nhằm hạn chế chiếm hữu lớn về đất đai của quý tộc phong kiến. Thực hiện chính sách “hạn nô”. Tổ chức cứu đói và chữa bệnh cho dân.

Về văn hóa, giáo dục, Hồ Quý Lý khuyến khích việc sử dụng chữ Nôm, đề cao lối học thực dụng, phê phán những người chỉ biết tầm chương trích cú, học rộng nhưng viển vông. Việc thi cử cũng được cải tiến nhằm kém chọn nhiều người tài hơn.

Trên bình diện quân sự quốc phòng, Hồ Quý Ly cho chế tạo súng mới, bố trí phòng thủ nơi hiểm yếu, xây dựng thành kiên cố. Nhà Hồ rất chú trọng đến việc bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ.

Hồ Quý Ly là một con người yêu nước, tiến bộ và tài giỏi. Ông thực hiện những cải cách với những quyết tâm cao, tài năng xuất chúng và một bản lĩnh phi thường. Tuy nhiên với những hạn chế trong cải cách đã làm ông thất bại.

Hào quang Đại Ngu đã vụt tắt chỉ sau 7 năm ngắn ngủi. Trước cuộc xâm lược của nhà Minh, nhà Hồ đã sụp đổ vào tháng 4/1407. Sự tồn tại của quốc hiệu Đại Ngu cũng vĩnh viễn chấm dứt từ thời điểm đó.

Bài học lớn nhất dẫn đến thất bại của Hồ Quý Ly chính là đánh mất sự yên bình trong lòng dân.

Dưới quốc hiệu Đại Ngu, người Việt cũng được chứng kiến những thành tựu to lớn về khoa học – kỹ thuật như việc phát minh ra súng thần cơ, thuyền cổ lâu (thuyền chiến lớn có hai tầng), những hệ thống thủy lợi quy củ, các công trình kiến trúc hoành tráng…

Thành nhà Hồ là một di sản quý giá mà Hồ Quý Ly để lại cho người Việt ngày nay. Công trình độc đáo này đã thể hiện bước phát triển mới trong phong cách kiến trúc và kỹ thuật xây dựng. Việc sử dụng kỹ thuật xây dựng bằng những khối đá lớn là thành tựu chưa từng có ở Việt Nam, chứng minh quyết tâm của nhà Hồ trong công cuộc xây dựng đất nước.

*Theo Hoàng Phương, Nhìn lại những cải cách quân sự của Hồ Quý Ly, tạp chí nghiên cứu lịch sử, Viên khoa học xã hội Việt Nam Viện sử học, số 5, năm 1992. Trang 56.

Dũng Linh (T/h)