Tử Cấm Thành: Những Điều Có Thể Bạn Chưa Biết

Sau khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ, xâm chiếm Đại Việt, nhiều thanh thiếu niên bị đưa sang Trung Hoa làm thái giám. Trong số thái giám phục vụ ở cung vua, Minh Thành Tổ thấy Nguyễn An (còn gọi là A Lưu) rất giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc xây dựng, lại liêm khiết nên tin dùng. Sách Kinh thành ký thắng của Dương Sĩ Kỳ viết:

” Nguyễn An tự tay vạch kiểu, thành hình là lập được thế, mắt ngắm là nghĩ ra cách làm, tất cả đều đúng với quy chế. Bộ công và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài, xuất chúng. “

Chữ “Tử” trong Tử Cấm Thành có nghĩa là “màu tím”

Văn hóa truyền thống Trung Hoa tôn kính Trời Đất, bậc Đế vương tự nhận mình là “Thiên tử” (con của Trời), tức là là người thống trị mà Thiên thượng phái xuống nhân gian. Tử Cấm Thành là nơi ở của Hoàng Đế nên được xây dựng phỏng theo Thiên cung trên trời, nhắc nhở mối liên hệ thần thánh giữa Thần và người (“Thiên nhân hợp nhất”). Chữ “Tử” trong Tử Cấm Thành (Purple Forbidden City) có nghĩa là “màu tím”, lấy ý từ thần thoại về Tử Vi Viên là nơi ở của Trời trên thiên thượng (Tiếng Trung: 紫微垣; bính âm: Zǐwēiyuán).

Tên ban đầu của điện Thái Hòa là “Phụng Thiên”, trần điện có “Gương Hiên Viên”

Trung tâm Tử Cấm Thành là Hoàng thành. Trung tâm Hoàng thành là Cung thành. Trung tâm Cung thành là Thái Hòa điện. Điện Thái Hòa là điện lớn nhất của Tử Cấm Thành, cao 30 mét so với quảng trường xung quanh, là nơi diễn ra các nghi thức và lễ tế quan trọng như lễ đăng quang hoặc lễ cưới hoàng gia. Trần điện được thiết kế một giếng chìm có hình rồng cuộn và từ miệng giếng tỏa ra một chùm những quả cầu bằng kim loại, được gọi là “Gương Hiên Viên” với ngụ ý quay trở về với Hiên Viên Hoàng Đế, vị vua cổ đại của Trung Quốc đã tu hành đắc Đạo cưỡi rồng bay lên trời. Thái Hòa là tên thời nhà Thanh, còn trước đó được gọi là Phụng Thiên điện dưới triều Minh.

Phụng Thiên nghĩa là vâng theo mệnh trời. Các Hoàng Đế trong lịch sử Trung Hoa coi mình là chân mệnh Thiên tử, nên “Phụng thiên thừa vận, thụ mệnh vu thiên” (Tạm dịch: Tuân phụng Trời thuận theo vận Trời, vâng theo mệnh lệnh từ Trời). Tuy vậy, “Hoàng thiên vô thân, duy đức thị phụ; dân tâm vô thường, duy huệ chi hoài” (Tạm dịch: “Trời xanh không kể thân thích, chỉ trợ giúp người có Đức, lòng người thay đổi vô thường, chỉ ban ân huệ cho người có tấm lòng”). Mệnh trời sẽ chỉ chiếu cố những vị vua có đức, một khi Thiên tử thất đức, ắt sẽ ảnh hưởng đến sự thịnh suy của vương triều. Do đó, bậc vua chúa nếu muốn giang sơn bền vững, thì phải tu Đức để xứng đáng với Trời.

Cung Hoàng đế và Hoàng hậu biểu thị Trời và Đất, Dương và Âm giao hòa

Hoàng đế, biểu thị cho Dương và Trời, ở Càn Thanh cung. Hoàng hậu, biểu thị cho Âm và Đất, ở Khôn Ninh cung. Giao Thái điện ở giữa hai cung, tượng trưng cho sự giao hòa Âm – Dương. Từ thời Ung Chính, vua chuyển đến sống tại Dưỡng Tâm điện phía tây để tỏ lòng kính trọng với Khang Hy. Càn Thanh cung trở thành nơi thiết triều của Hoàng đế. Vì vậy, Hoàng hậu cũng rời khỏi cung Khôn Ninh.

Hai tượng sư tử đồng, một đực một cái, đặt trên bệ đá ở cửa nội đình

Con đực giữ một quả bóng dưới chân, tượng trưng cho quyền lực. Con cái giữ một con sư tử con, tượng trưng cho sự sống.

Mái cung điện màu vàng có ý nghĩa gì?

Đa số mái của các cung điện đều lợp ngói lưu ly màu vàng. Màu vàng tương ứng với Thổ, là trung tâm của ngũ hành, gốc của vạn vật, cho nên xưa nay màu vàng được xem là màu tôn quý nhất.

Ý nghĩa cái tên hai cửa Đông Tây của sân rồng cung Càn Thanh

Sân rồng của cung Càn Thanh có hai cửa Đông Tây, tên là Nhật Tinh và Nguyệt Hoa, tượng trưng cho Nhật Nguyệt (Mặt trời và mặt trăng, ngày và đêm). Đặt bản thân mình dưới sự soi xét của nhật nguyệt là tư tưởng của bậc minh quân, như Lý Công Uẩn từng có thơ rằng:

Trời làm màn gối, đất làm chiênNhật nguyệt cùng ta một giấc yênĐêm khuya chẳng dám dang chân duỗiChỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng.(Tức cảnh)

Tử Cấm Thành không chỉ là công trình kiến trúc kì vĩ bậc nhất, mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa cổ truyền của phương Đông. Đó là văn hóa kính Trời, trọng Đạo, nhấn mạnh vào mối giao hòa giữa thiên thượng và nhân gian, nam-nữ âm-dương hòa hợp. Nội hàm nhân sinh quan và vũ trụ quan của Tử Cấm Thành triển hiện một chữ “Đạo”, trong đó nguồn gốc của con người là từ thiên thượng, bởi thế nên cần xử thế cho hợp với Đạo Trời.

Trong lịch sử Trung Quốc, từ vua Vũ vua Thang cho tới Chu Thành Vương, Tần Mục Công, Hán Vũ Đế, Đường Đức Tông, Thanh Thế Tổ, … mỗi khi có thiên tai nhân họa lớn phát sinh, các bậc đế vương ấy đều tự kiểm điểm bản thân – mình đã làm sai điều gì khiến Trời cao giận dữ? Sau đó, họ tắm rửa chay tịnh, bái lạy cầu khấn Trời Đất, thậm chí còn công bố “Tội kỷ chiếu” (tức là “Chiếu thư tự trách tội mình”) trước Thiên hạ, công khai kiểm điểm và sám hối những lỗi lầm và thất bại của bản thân. Họ hướng về Thiên thượng và tất cả người dân hứa nhất định sẽ sửa chữa sai lầm, tự đôn đốc bản thân, từ đó được Thiên thượng tha thứ, không trách tội nữa, muôn dân thoát khỏi kiếp nạn.

Thiên tai nhân họa chính là sự thể hiện của “Ý trời”, những người thống trị thời cổ đại phần lớn đều xem đó như là các “cảnh báo của Thiên tượng”. Trận động đất lớn năm 1679 xảy ra khi vua Khang Hy đang bận đi bình định loạn Tam phiên. Đối với ông chuyện đó là một gậy cảnh tỉnh không tầm thường. Ông vội “hạ chiếu phát tiền cứu trợ 10 vạn lượng”, tiếp theo nói trước mặt quần thần: ” Bản thân Trẫm không có Đức, chính trị không hợp lòng dân, động đất xảy ra là một lời cảnh báo. ” Vua Khang Hy thái độ rất chân thành, tìm ra sáu loại “tệ nạn chính sự” trong tầng lớp quan lại, cho rằng đó chính là “nguyên do của tai họa,” và ra lệnh cho các quan Cửu khanh bàn luận kỹ càng, căn cứ theo bộ Lại lập pháp nghiêm cấm, nhất định sẽ trừ dứt tệ nạn kéo dài đã lâu ngày này.

” Thiên nhân hợp nhất “, du khách tham quan Tử Cấm Thành nếu chưa lĩnh hội được thông điệp sâu sắc này của cổ nhân, chẳng phải là đã “nhìn mà không thấy” hay sao?

Mã Lương

Vì Sao Cố Cung Còn Có Tên ‘Tử Cấm Thành’?

“Tây vọng Dao Trì giáng Vương Mẫu.

Đông lai tử khí mãn Hãm quan”.

Từ đó, người xưa gọi khí cát tường là “tử vân” (màu tím). Chỗ ở của “tiên” trong truyền thuyết gọi là “tử hải”, gọi thần tiên là “tử hoàng”, gọi con đường nhỏ ngoại thành thành Đông Kinh là “tử mạch”. Khí màu tím từ phía Đông đến, tượng trưng cho cát tường. Điều đó cho thấy chữ “Tử” trong Tử Cấm Thành” có nguồn gốc (xuất xứ) rất cụ thể. Nơi hoàng đế ở phòng bị nghiêm ngặt, thường dân không được phép đến gần, vì vậy gọi là “Tử Cấm Thành”.

Hoàng đế tự coi mình là thiên tử, tức con của Thượng đế. Thiên cung là nơi Thượng đế ở cũng là nơi thiên tử trú ngụ.Sách “Quảng Nhã. Thích Thiên” có nói “Thiên cung” còn gọi là “Tử cung” (cung màu tím). Vì vậy, cung điện của hoàng đế ở được gọi là “Tử cung”. “Tử cung” cũng gọi là “Tử Vi cung”. Sách “Hậu Hán Thư” viết: “Trời có cung Tử Vi, là nơi ở của thượng đế, vua lập cung điện cũng gọi như vậy”. Sách ” Nghệ Văn Loại Tụ ” lại ghi: “Hoàng khung thuỳ tượng, dĩ thị đế vương, Tử Vi chi tắc, hoằng đán di quang” (Nơi ở của hoàng đế phải nguy nga tráng lệ để tỏ uy nghiêm. Nguyên tắc của sao Tử Vi cũng toả sáng khắp nơi).

Người xưa coi Thiên tử là chòm sao Tử Vi, vì vậy chòm sao Tử Vi trở thành đất của hoàng cực (hoàng gia), gọi cung điện hoàng đế là “tử cực”, “tử cấm”, “tử viên”. Cách nói “Tử cấm” đã có từ đời nhà Đường.

Cố Cung Bắc Kinh rộng 1087 mẫu, chiều dài Nam Bắc 961m,chiều rộng Đông Tây là 753m, chu vi dài 3,5km, có hơn 9000 gian phòng khác nhau trong các cung điện. Tường bao quanh Cố Cung cao hơn 10m. Gọi thành hoàng đế ở là Tử Cấm Thành không những trang nghiêm mà còn có hàm nghĩa “Thành của Thiên tử” (con trời). Khảo sát các công trình kiến trúc trong Cố Cung cho biết điện Thái Hòa tượng trưng cho sự vĩ đại và cao cả của “trời” ở chính giữa Cố Cung và là nơi cao nhất trong Cố Cung. Hai cung Càn Thanh, Khôn Ninh tượng trưng cho trời và đất liên kết chặt chẽ với nhau. Hai cổng Nhật Tinh và Nguyệt Hoa ở hai bên cung Càn Thanh, Khôn Ninh tượng trưng cho Mặt trời và Mặt trăng. 6 cung Đông Tây tượng trưng 12 tinh tú và các tổ hợp kiến trúc khác biểu thị các vì sao trên bầu trời. Quần thể kiến trúc mang tính tượng trưng này bao bọc hai cung Càn Thanh, Khôn Ninh biểu thị thiên tử “nhận mệnh trời”- và tính uy nghiêm của Hoàng đế.

Tài Liệu Về Thân Phận Cung Nữ Trong Tử Cấm Thành Ở Huế

Một bài viết “bên lề chính sử” chia sẽ với bạn đọc về bí ẩn đời sống phận cung nữ trong tử cấm thành ở Huế. Qua đó phần nào sẽ hiểu hơn về một bộ phận tuy quyền lực nhỏ bé nhưng lại góp phần quan trong vào guồng quay của đời sống cung đình thời bấy giờ. Thưởng theo quan niệm vào cung là đến với cuộc sống giàu sang nhung lụa nhưng với phần lớn cung nữ, Tử Cấm thành lại là nơi chôn vùi tuổi xuân của họ.

Tử Cấm thành Việt Nam được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804). Ban đầu gọi là Cung thành. Các vua đời sau tiếp tục xây dựng thêm. Đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822) mới đổi tên là Tử Cấm thành nghĩa là Thành cấm màu tía. Tử Cấm thành về đại thể là một hình chữ nhật có chu vi khoảng 1.229m. Mặt trước và sau mỗi mặt dài 324m, hai mặt bên dài 290m. Bức tường Tử Cấm thành cao hơn 3 mét, dày gần 1 mét xây hoàn toàn bằng gạch vồ để ngăn cách hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Bên trong Tử Cấm thành có tất cả hơn 50 công trình kiến trúc với các chức năng khác nhau. Tử Cấm thành thông ra bên ngoài ở 7 cửa. Hướng Nam là Đại Cung, đông là Hưng Khánh , Đông An, Tây là Tây An, Gia Tường, Bắc là Tường Loan, Nghi Phụng. Cửa Đại Cung là cửa chính được xây dựng năm Minh Mạng thứ 14.Cửa này rộng 5 gian, có 3 cửa tiếp nhau. Với vị trí là nơi ở của vua và gia quyến nên Tử Cấm thành được bảo vệ nghiêm ngặt. Không chỉ thường dân, ngay cả đến các quan lại, nếu không phải phận sự hoặc không được vua gọi vào cũng ít khi được lai vãng. Bởi đặc điểm đó, sinh hoạt bên trong Tử Cấm thành từ trước đến nay vẫn còn là những điều ít được biết tới.

Nói tới sinh hoạt trong Tử Cấm thành, đối tượng đầu tiên phải nhắc đến là các cung nữ, phi tần. Tất nhiên ở trong hoàng cung có rất nhiều nhóm đối tượng khác như: đầu bếp, thị vệ, thái giám… Nhưng chỉ có cung nữ phi tần là nhóm bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Bức tường Tử Cấm thành cao hơn 3 mét vốn đã làm cho nó cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Tuy vậy, các thái giám, thị vệ, đầu bếp khi có công việc vẫn thường được ra bên ngoài. Chỉ có phi tần, cung nữ là từ khi được tuyển vào cung cho đến hết đời phải “chôn chân” ở bên trong thành Nội.

Bên cạnh đó, người ta còn đặt ra nhiều quy định khắc nghiệt đối với những cô gái được tuyển vào cung. Chính những quy định ấy mới tạo nên bức màn sắt chôn vùi tuổi xuân của các cô. Trong cuốn Đời sống trong Tử cấm thành, Tôn Thất Bình viết: ” Từ khi được tuyển hay tiến cung, các phi tần không được phép gặp gỡ người thân dù là cha mẹ. Cũng có trường hợp ngoại lệ vua cho phép gặp mặt, nhưng chỉ mẹ mới được nói chuyện cùng con qua một bức mà sáo che, chỉ nghe thấy tiếng mà không nhìn thấy mặt nhau. Còn cha thì đứng ở ngoài sân nhìn vào. Cho nên ở Huế có câu “đưa con vô nội” là có ý nghĩa như mất con rồi”.

Bài thơ “ĐƯA CON VÔ NỘI” của tác giả Siêu Nguyễn

Một thời Lá Ngọc Cành Vàng Một thời nay đã xế ngang bóng chiều Đưa Con Vô Nội tiêu điều Liễu tàn trước bến, bao nhiêu ngày vàng Kêu Xuân cánh én lìa đàn Mây tan theo gió, Sen tàn trong ao Trăng còn lơ lững trên cao Trăng còn đùa giỡn dưới ao trước nhà Bình rơi, Trâm gãy đêm dài Bông hoa rụng xuống cho ngày ngẫn ngơ Mưa tan, mây lạnh sương mờ Buồm xa nước thẳm, thẫn thờ bến mơ Đưa Con Vô Nội mong chờ Những ngày trông ngóng bây giờ quặn đau Kiếp người nhiều lắm thương đau Lớp người đi trước lớp sau theo về

Ngoài những nỗi khổ về nội tâm trong cuộc sống “cá chậu chim lồng”, người cung phi trong Tử Cấm thành phải kiêng cữ đủ thứ, như không được nói một chữ gì xấu, gở hoặc thô tục như đui, què, phong hủi, máu me… mà phải thay bằng chữ khác. Tất cả những chữ dùng cho sinh hoạt của vua cũng phải khác người thường, như vua đau thì nói ngài “se”, “siết”… lại có vô số chữ húy phải kiêng như các tên Hoàng tộc. Có trọng húy và khinh húy. Hễ trọng húy mà vi phạm thì sẽ bị tội nặng. Nhất là phải kiêng tên vua, hoàng hậu và gia đình hoàng tộc. Cung nhân phải học thuộc lòng để tránh tai họa. Như trường hợp bà Hồ Thị Hoa vợ của vua Minh Mạng. Để tránh tên Hoa, những từ gì có chữ này đều đổi thành chữ Hoa. Từ trong cung cấm truyền ra ngoài dân gian nên chợ Đông Ba vốn trước là chợ Đông Hoa phải đổi thành Đông Ba.

Cung phi không chỉ phục vụ vua trong việc chăn gối mà còn đảm trách một số việc khác. Theo tài liệu của Ch. Gosselin trong L’Empire d’Annam, lúc vua Tự Đức còn tại thế, hàng ngày có 43 bà phục dịch trong nội dinh, 30 bà lo việc canh gác, 13 bà lo việc chải tóc, mặc áo, trau chuốt móng tay, vấn và thắp thuốc, nhất là mài son, thấm bút cho vua châu phê vào tấu sớ. Buổi tối vua ngủ, các bà phải nằm quanh long sàng để làm vệ sĩ. Trong bài Les Annamites của F.Baille thì cung phi phục dịch vua Đồng Khánh như sau: “Hàng ngày một toán cung nữ được chọn trong tất cả đẳng cấp phục dịch đức vua. Ba mươi người chia nhau canh gác xung quanh hậu cung của ngài. Năm nàng luôn ở bên cạnh ngài, luân phiên săn sóc trang điểm cho ngài. Các nàng thay quần áo cho ngài, chải chuốt bộ móng tay dài hơn ngón tay, thoa dầu thơm, vấn khăn lụa vòng quanh đầu ngài. Sau cùng chú ý đến từng chi tiết nhỏ nhặt quanh ngài sao cho thật hoàn hảo. Năm cung nữ này cũng kiêm lo hầu cơm nước đức vua”.

Người phụ nữ nào cũng mong muốn hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, trong hàng chục hàng trăm cung tần đó, chỉ một vài người được vua biết đến. Số lớn còn lại phải chịu bỏ phí tuổi xuân. Tôn Thất Bình viết: “Bi kịch cuối cùng của đời sống cung phi trong Tử Cấm thành là khi sống họ chỉ biết phục vụ 1 người đàn ông duy nhất là vua, ngoài ra không được đụng chạm bất kỳ một người đàn ông nào khác, cho đến cả khi bị bệnh nặng, lương y đến thăm mạch để bốc thuốc cũng không được tiếp xúc với làn da của người bệnh. Một thái giám và một bà quản sự đứng hai bên lương y để theo dõi cách thăm mạch bằng hai ngón tay ấn vào cườm tay của người bệnh có vấn một mảnh lụa mỏng để tránh đụng vào làn da; ngoài ra lương y ko được nhìn, hỏi bệnh nhân. Thế nên khó biết đích xác bệnh trạng mà bốc thuốc, làm sao các bà lại không mất sớm được!”.

Nguồn: Vũ Tiến Đức (Kiến Thức) – Siêu Nguyễn – chúng tôi

Với tài liệu tham khảo này, City Tour Đà Nẵng hy vọng các bạn hướng dẫn viên sẽ lưu lại cho mình những kiến thức nền tảng tốt nhất để hành nghề, giúp du khách hiểu hơn văn hóa lịch sử quê hương mình. Thân mến!

Sự Thật Tử Cấm Thành Là Gì? Những Điều Bạn Có Thể Chưa Biết?

Sự thật Tử Cấm Thành là gì? Những điều bạn có thể Chưa Biết?

1. Vài nét về Tử Cấm Thành

Tử Cấm Thành là một cung điện nguy nga và huyền bí bậc nhất Trung Hoa, tồn tại qua 24 đời vua của hai vương triều lớn ở Trung Quốc là Minh Triều và Thanh Triều. Được xây dựng vào năm 1406, dưới đời vua Minh Thành Tổ Chu Đệ, và hoàn thành 14 năm sau đó, tức năm 1420. Và còn được biết đến với tên gọi là Cố Cung.

Tử Cấm Thành nguy nga và kinh diễm giữa lòng thủ đô Bắc Kinh

Tử Cấm Thành là nơi làm việc và trị vị đất nước của các bậc đế vương, cùng các quần thần trong nước bàn chuyện chính sự và cũng chính là nơi ở của hoàng đế, hoàng hậu, cùng hàng nhìn cung tần mĩ nữ, thái giám những người theo hầu và phục dịch cho vua. 

Ngày nay, Tử Cấm Thành đã trở thành một kỳ quan của thế giới bất chấp thời gian với vẻ đẹp trường tồn. Và là một địa điểm chứa đựng nhiều điều huyền bí mà ai ai cũng muốn tìm hiểu và khám phá.

2. Tử Cấm Thành là gì?

Tử Cấm Thành với quy mô hoành tráng rộng lớn với 720.000m2, có 8707 gian phòng, là nơi ở của Hoàng đế và hàng nghìn người thời xưa

Có lẽ, Tử Cấm Thành – tường đỏ ngói vàng, long lanh rực rỡ, nhưng lại cô liêu tịch mịch, từ lâu đã không còn xa lạ đối với chúng ta. Qua các bộ phim cung đấu, tranh đoạt vương vị nổi tiếng của màn ảnh Hoa ngữ, chúng ta đã phần nào biết được quy mô hoành tráng cũng như cuộc sống sinh hoạt thời xưa của các bậc đế vương cùng các lễ nghi cực kỳ khắt khe.

Tuy nhiên, lại rất ít người biết được sự thật tên gọi Tử Cấm Thành có nghĩa là gì? Nhắc đến Tử Cấm Thành, sẽ có 3 cách lý giải như sau:

Tử Cấm Thành trong “Tử Vi Cung”

Đây là cách giải thích phổ biến và thông dụng nhất trong nhân gian. Ngày xưa, hoàng đế luôn tự coi mình là “Thiên tử” - con Trời, tức là con của Thượng đế hay Ngọc Hoàng đại đế. Các sách cổ gọi nơi ở của Thượng đế trên trời là “Tử Cung” hay “Tử Vi Cung”, tức cung điện màu tím.

Vì vậy nơi ở của con trời, cũng được gọi là “Tử” (Tử ở đây là màu tím). “Cấm Thành” là khu thành cấm người dân ra vào, vì nơi ở và trị vị đất nước của hoàng đế, dân thường không thể tự ý ra vào. Vì vậy, có tên gọi là “Tử Cấm Thành” có thể hiểu là ”Khu thành màu tím cấm dân ra vào”.

Tên gọi Tử Cấm Thành mang nhiều điều thú vị

Tử Cấm Thành với học thuyết “Hoàng viên” cổ đại

Với cách lý giải thứ hai, theo học thuyết “Hoàng viên” cổ đại về các chòm sao, thì các nhà thiên văn thời cổ đã chia các sao trên trời thành tam viên, 28 tinh tú cung các chòm sao khác. Trong đó, “Tam viên” gồm: Thái Vi Viên, Thiên Thị Viên và Tử Vi Tinh Viên (hay sao còn được gọi là sao Bắc Đẩu) đại diện cho “Thiên tử” nằm ở giữa.

Vì vậy, người xưa đã xem chòm sao Tử Vi tượng trưng cho Thiên tử, và là đất của hoàng gia, gọi cung điện của hoàng đế là “tử viên”, “tử cấm”, “tử cực”. Và cách nói “Tử Cấm” đã có từ thời nhà Đường.

Tử Cấm Thành luôn chất chứa trong mình những điều bí ẩn bấp chấp thời gian

Tử Cấm Thành trong điển cố “Từ Khí Đông Lai”

“Từ Khí Đông Lai” có nghĩa là “khí màu tím đến từ phí Đông”, xuất phát từ truyền thuyết về Lão Tử sau khi ra khỏi cửa ải Hàm Cốc thì có khí màu tím đến từ phía Đông, và Lão Tử cưỡi trâu xanh từ từ đi đến. Quan giữ thành nhìn thấy cảnh tượng này, liền biết là “thánh nhân” xuất hiện, liền nhờ Lão Tử viết sách đó cũng chính là cuốn “Đạo Đức Kinh” nổi tiếng ngày nay.

Từ đó, nhân gian xem ”khí màu tím” tức “Tử vân”, tượng trưng cho sự cát tượng, báo hiệu bậc đế vương, thánh hiền, của quý xuất hiện. Chỗ ở của tiên trong truyền thuyết gọi là “Tử hải”, thần tiên được gọi là “Tử hoàng”, và con đường nhỏ ngoại thành Đông Kinh là “Tử mạch”. Vì vậy, nguồn gốc của từ “Tử” trong ‘Tử Cấm Thành” có nghĩa là màu tím, và “cấm thành” chính là khu vực cấm dân ra vào. 

Tử Cấm Thành mang nét đẹp diễm lệ vào mùa đông

3. Tham quan Tử Cấm Thành Giờ mở cửa

Tử Cấm Thành mở cửa quanh năm để phục vụ khách du lịch theo khung giờ sau:

1 Tháng 4 – 31 Tháng 10: 8h30 – 17h (Lượt vào cuối cùng: 16h10)

1 Tháng 11 – 31 Tháng 3: 8h30 – 16h30 (Lượt vào cuối cùng: 15h40)

Để tham quan hết Tử Cấm Thành bạn phải dành thời nửa ngày hoặc cả một ngày.

Giá vé

Tháng 4 – Tháng 10: 60 tệ (khoảng 200.000VNĐ)

Tháng 11 – Tháng 3: 40 tệ (khoảng 140.000VNĐ)

Nguồn ảnh: Instagram

Giới thiệu về tác giả:

Đích đến của chúng ta không phải là một vùng đất, mà là một cách nhìn mới. Cuộc hành trình ngàn dặm của bạn sẽ phải bắt đầu từ một bước đi nhỏ bé đầu tiên. Bởi lẽ không phải ai lang thang cũng là người đi lạc. Tôi thích cảm giác được là kẻ vô danh trong một thành phố xa lạ, tìm thấy một chút bình yên giữa những năm tháng vội vã của cuộc đời…

Tác giả: Nguyễn Quốc Thuỵ Lan Anh Giới thiệu về tác giả:

Ý Nghĩa Hoa Lan Quân Tử

Người ta còn biết đến Lan Quân Tử với một số tên gọi khác như: Đại Quân Tử, Huệ Đỏ, Lan Huệ Da Cam,… Nó có tên khoa học là Clivia Nobilis, là thực vật thân thảo có hoa thuộc họ Amaryllidaceae, chi Clivia . Lan Quân Tử được biết đến có bắt nguồn từ Nam Phi. Cây có chiều cao từ 0.3 – 1m, lan quân tử là loài cây sống lâu năm. Lan Quân Tử có bộ rễ to, phát triển khỏe mạnh. Rễ cây có thể bám sâu và lan rộng trong lòng đất. Nhờ đó cây có sức sống vô cùng mãnh liệt.

Lá Lan Quân Tử có màu xanh đậm, dày, các lớp lá dài xếp chồng đan xen nhau theo kiểu đối xứng hai bên. Lá cây mọc dài vươn ra phía ngoài. Hoa Lan Quân Tử có các màu: cam, vàng, vàng nhạt. Thông thường lan quân tử có màu cam rực rỡ. Còn có một số cây có hoa màu vàng. Màu hoa nhạt ở phần nhụy, đậm hơn ở phần hướng về cành. Riêng hoa màu vàng có pha chút sắc hồng nhạt ở nửa phía ngoài của cánh hoa. Ở nhánh cây các bông hoa lan quân từ kết hợp với nhau thành chùm. Mỗi nhánh từ 2-3 chùm, mỗi chùm từ 12-16 bông, mỗi bông từ 4-8 cánh. Trong các loài thuộc chi Clivia thì lan quân tử là loài có thời gian phát triển, trưởng thành lâu.

Từ khi hạt giống được gieo đến khi cây trưởng thành và cho hoa kéo dài từ 6 năm. Những cây lan quân tử có sức sống mãnh liệt. Hoa lan quân tử cũng có sức sống bền bỉ. Từ lúc hoa nở đến khi hoa tàn kéo dài gần 2 tháng. Sau sự tàn lụi của hoa những trái lan quân tử được hình thành. Trái lan quân tử có kích thước nhỏ như viên bi, màu đỏ tươi. Thời gian để quả chín cũng phải mất đến 1 năm. Là loài cây bụi, trong điều kiện thuận lợi cùng với sức sống mạnh mẽ lan quân tử có thể tồn tại lâu dài và phát triển qua nhiều thế hệ.

Ý nghĩa của hoa Lan Quân Tử

Lan Quân Tử mang cái tên nói lên cốt cách của chính nó, giống như người quân tử. Sự kiên cường chống chọi với môi trường, vượt qua cả những điều kiện bất lợi nhất. Trong cả điều kiện đất khô cằn hay dư thừa lượng nước cây vẫn sống, mạnh mẽ vươn lên. Giống như người quân từ kiên cường trong mọi hoàn cảnh.

Sức sống mãnh liệt của cây, sự lâu tàn của hoa còn thể hiện sự thịnh vượng lâu dài. Dáng cây sang trọng thể hiện sự phú quý, danh giá cho người sở hữu. Màu hoa rực rỡ thể hiện cho sự may mắn.

Lan Quân Tử như biểu tượng của thịnh vượng, tài khí. Vào ngày tết, người ta thường chưng Lan Quân Tử với ý nghĩ xua đi xui rủi, đón chào vận may, tài lộc trong năm mới.

Ngoài ra với các lớp lá đan xen đối xứng nhau, chưng Lan Quân Tử còn giúp lọc bụi không khí, mang lại không gian trong lành.

Cây Lan Quân Tử phù hợp với tuổi nào?

Hoa Lan Quân Tử với tông màu cam, vàng nổi bật là mệnh thổ. Phù hợp người với mệnh Hỏa, các tuổi như: Mậu Tý, Kỷ Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Giáp Thìn, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi. Và phù hợp với người mệnh Thổ, các tuổi như: Canh Tý, Tân Sửu, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Mậu Dần Kỷ Mão, Bính Tuất và Đinh Hợi.

Ngoài ra Lan Quân Tử còn hợp với tuổi Mùi, các tuổi Kỷ Mùi và Tân Mùi.

Lan Quân Tử bày trí trước cửa nhà thể hiện sự thịnh vượng, đón vận may đến với gia chủ. Để cây trong phòng làm việc, phòng đọc sách thể hiện sự cố gắng, kiên trì như người quân tử, sự phú quý.

Cách trồng và chăm sóc Lan Quân Tử

Lan Quân Tử có sức sống mạnh mẽ nên cây dễ trồng và dễ chăm sóc.

Nếu chọn trồng lan quân tử bằng cách gieo hạt. Nên tìm mua hạt giống lan quân tử tại các địa chỉ nhà vườn cung cấp hạt giống uy tín. Chọn các hạt giống to, khả năng lên mầm cao. Để trồng Lan Quân Tử, sử dụng hạt đã được ngâm nước ấm từ 30-35 độ C trong 30 phút.Chuẩn bị săn chậu và đất trồng để gieo hạt. Nên sử dụng đất chua, thoáng khí, giàu chất dinh dưỡng, phối hợp các loại như sau: 6 phần mùn, trấu hun + 2 phần lá khô mục + 1 phần đất cát và 1 phần phân hữu cơ. Tưới nước 1-2 lần/ ngày. Hạt giống sẽ nảy mầm trong 1-2 tuần sau đó.

Ngoài cách trồng lan quân tử từ hạt giống bạn còn có thể lựa chọn trồng lan quân tử bằng cách tách thân của cây trưởng thành. Bạn nên lựa chọn những cây lan quân tử trưởng thành, khỏe và sạch bệnh. Sử dụng dao hoặc các vật dụng chuyên dụng để cắt cành đang phát triển từ thân cây. Sau đó, trồng cành vừa tách vào đất có điều kiện dinh dưỡng tốt ( như đã đề cập ở trên). Cành sẽ ra rễ sau từ 2 tháng cắt ra từ thân cây. Sau khi ra rễ ít nhất 2 năm cây sẽ phát triển thành cây trưởng thành. Rút ngắn thời gian so với việc gieo hạt.

Là loài ưa bóng mát nên trồng cây ở nơi không có nắng gắt chiếu vào. Cây có thể sống cả trong môi trường điều hòa. Cây sinh trưởng bình thường trong độ từ 15-25 độ C. Cây ngừng sinh trưởng ở nhiệt độ dưới 5 độ C và trên 30 độ C.

Cây ưa độ ẩm trung bình. Tưới khi mặt đất se khô với lượng vừa đủ tránh làm cây bị úng. Tùy thời tiết từng mùa để tưới nước cho cây. Mùa xuân nên tưới mỗi ngày 1 lần. Mùa hè phun nước lên lá và xung quanh 2 lần mỗi ngày. Mùa thu nên tưới cách ngày. Mùa đông tưới 1 lần/tuần. Khi trồng hoặc thay chậu nên sử dụng phân hữu cơ hoặc phân trùn quế bón lót cho cây.