Xu Hướng 2/2023 # Truy Nguồn Gốc Tên Hà Nội # Top 8 View | Eduviet.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Truy Nguồn Gốc Tên Hà Nội # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Truy Nguồn Gốc Tên Hà Nội được cập nhật mới nhất trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Kính gửi ông Nguyễn Ngọc Ngạn,Trong cuốn băng Huế – Sài gòn – Hà Nội, ông nói vua Minh Mạng đổi tên Thăng Long thành Hà Nội. Nhưng ông giải thích sai về tên Hà Nội. Theo tôi biết, Hà Nội nghĩa là “trong sông” vì Hà Nội nằm ở giữa, bốn phía Đông, Nam, Tây, Bắc còn có Hà Đông, Hà Nam, Hà Tây, Hà Bắc.Ông Ngạn nên đính chính lại để con cháu chúng ta khỏi bị nhầm lẫn về lịch sử… Trích thư ông Nguyễn Trân, Toronto, Canada

Nhà Văn Nguyễn Ngọc Ngạn:

Cám ơn lời nhắc nhở của ông. Ông không phải là người đầu tiên nêu vấn đề này. Khá nhiều khán giả đã bày tỏ sự bất đồng với tôi khi tôi nói trên băng Paris By Night rằng: Vua Minh Mạng đã lấy một địa danh có sẵn bên Trung Hoa để đặt tên thay cho Thăng Long. Địa danh đó là Hà Nội.

Hôm nay tôi xin trả lời chung quý độc giả và khán giả đã bỏ thì giờ góp ý với tôi. Lẽ ra tôi phải nói chuyện này trên Paris By Night nhưng vì câu chuyện phức tạp, không đủ thì giờ trình bày trong một chương trình ca nhạc. Tôi lại cũng không sử dụng Internet, nên đành nhờ báo chí và nhờ cô Kỳ Duyên phổ biến giùm.

Trước hết xin nhìn lại đôi dòng lịch sử, để bạn đọc nào chưa hề theo dõi vấn đề này, sẽ có chút khái niệm tổng quát:

Vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) trên chuyến du hành từ kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) về quê ông ở Bắc Ninh, đi ngang thành Đại La. “Khi thuyền tạm đỗ dưới thành, thấy có rồng vàng hiện ra ở thuyền ngự rồi bay lên trời, vì thế mà gọi là Thăng Long.” Và vua quyết định rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long năm 1010.

Tám trăm năm sau, 1802, vua Gia Long thống nhất đất nước, lập kinh đô triều Nguyễn ở Huế, nhưng cũng vẫn duy trì hai chữ Thăng Long, chỉ đổi chữ “long” là “con rồng” thành chữ “long” là “hưng thịnh”, nghĩa là đồng âm nhưng khác nghĩa (năm 1805).

Điều đáng nhắc lại là nhà Lý chọn Thăng Long làm kinh đô cũng như nhà Nguyễn chọn kinh đô Huế đều có dựa một phần vào yếu tố phong thủy. Trong chiếu rời đô, vua Lý Thái Tổ viết:

“Thăng Long ở chính giữa cõi bờ đất nước, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi… dễ mưu toan việc lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau.”

Tương tự như vậy, vua Minh Mạng khiêm tốn nói:

“Trẫm không dám mong dòng họ Nguyễn Phước của trẫm sẽ ngự trên ngai vàng hơn 700 năm như nhà Chu bên Trung Hoa. Trẫm chỉ hy vọng kéo dài 500 năm là được rồi!”

Ngoài niềm tin phong thủy trên sông Hương, “lấy cồn Hến và cồn Dã Viên làm Thanh Long, Bạch Hổ cùng chầu về hoàng đô”, vua Minh Mạng còn cẩn thận xóa bỏ hẳn cái tên Thăng Long, đổi thành Hà Nội. Ông bỏ tên Thăng Long vì Rồng (long) là biểu tượng độc quyền của vua mà vua không còn ở đó nữa thì chẳng có lý do gì vùng đất ấy được giữ tên Rồng! Hơn thế nữa, vua Minh Mạng muốn xóa cái tên ấy hầu muốn dân đừng nhớ tới kinh đô của các triều đại trước, nhất là vua vừa lên ngôi được một hai năm, giặc giã đã nổi lên khá nhiều ở miền Bắc.

Từ đó, Thăng Long đổi thành Hà Nội. Chỉ có điều là vua rất khôn ngoan, chờ dịp cải tổ hành chánh trên toàn quốc năm 1831, quy định lại phạm vi các tỉnh, vua mới thay tên Thăng Long, để khỏi bị mang tiếng là tự dưng xóa bỏ kinh đô của các triều đại trước. Để chắc ăn hơn về mặt phong thủy, vua còn ra lệnh hạ thấp thành Hà Nội, tức thành Thăng Long cũ xuống, không được quyền cao hơn kinh thành Huế.

Đó là vài nét tổng quát về sự đổi thay từ địa danh Thăng Long biến thành Hà Nội.

Về địa danh Hà Nội, có hai cách giải thích:

Một ý kiến cho rằng sở dĩ vua Minh Mạng đặt tên Hà Nội bởi vì vùng đất này nằm ở phía trong sông Hồng.

“Thăng Long là một cái tên độc đáo và sáng tạo vì không lấy chữ có sẵn trong sách và khối địa danh có sẵn ở phương Bắc (tức Trung Hoa) như người ta vẫn làm trước đó và sau này, như trường hợp cái tên Hà Nội.”

Giáo sư Trần Quốc Vượng thì chắc chắn bất cứ ai thích đọc sử Việt đều biết đến uy tín chuyên môn rất thâm hậu của ông. Ông đã xuất bản hàng loạt sách giáo khoa hoặc nghiên cứu về lịch sử và địa lý Việt Nam. Tác giả Vũ Tuấn Sán cũng vậy. Ông là nhân viên kỳ cựu của Viện Bảo Tàng Hà Nội. Hai ông đều cho rằng Hà Nội là cái tên có sẵn bên Tàu và vua Minh Mạng lấy tên đó mang sang nước ta.

Nhưng ngay cả trước khi đọc cuốn Hà Nội Nghìn Xưa của Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán, tôi cũng vẫn đã cho rằng Hà Nội là một cái tên có sẵn từ bên Tàu. Chuyện vay mượn của Trung Hoa thời xưa là điều rất bình thường khi ảnh hưởng văn hóa phương Bắc còn tràn ngập trong xã hội Việt Nam, nhất là văn chương khoa cử nước ta đều phải dùng chữ Hán. Cho nên việc lấy tên Hà Nội từ Trung Hoa đem vào nước ta không phải là một cái gì mới mẻ. Ở Chiết Giang có núi Thiên Thai. Đây là quê hương cũ của dòng Bách Việt chúng ta. Núi Thiên Thai là nơi xuất phát chuyện Lưu Nguyễn đi hái thuốc rồi lạc vào động tiên. Có thể vì thấy chuyện hấp dẫn cho nên bên Việt Nam cũng lấy tên Thiên Thai để đặt cho một ngọn núi ở Bắc Ninh và một núi nữa ở Thừa Thiên. Tên Hà Đông cũng vậy, từ Trung Hoa đưa sang nước ta. Chúng ta không ngạc nhiên vì ngay cả lề lối thi cử, cách tổ chức triều đình và quan lại, nước ta còn phỏng theo Trung Hoa, huống hồ là bắt chước một cái tên!

Tôi xin thưa ngay là tất nhiên tôi cũng dã đọc một số bài viết cho rằng Hà Nội có nghĩa là “vùng đất trong sông”. Các bài viết này phần lớn đều dựa vào định nghĩa từ các cuốn tự điển Hán Việt. Riêng Tự Điển Nhà Nguyễn của Võ Hương An còn viết rõ hơn:

“Tỉnh đặt giữa sông Hồng và sông Đáy nên vua Minh Mạng đặt tên là Hà Nội (chứ không phải bắt chước một địa

Tôi xin thưa ngay là tất nhiên tôi cũng dã đọc một số bài viết cho rằng Hà Nội có nghĩa là “vùng đất trong sông”. Các bài viết này phần lớn đều dựa vào định nghĩa từ các cuốn tự điển Hán Việt. Riêng Tự Điển Nhà Nguyễn của Võ Hương An còn viết rõ hơn:

“Tỉnh đặt giữa sông Hồng và sông Đáy nên vua Minh Mạng đặt tên là Hà Nội (chứ không phải bắt chước một địa danh bên Tàu như có người nói).”

Dĩ nhiên ai cũng biết Hà là Sông và Nội là Trong. Ghép hai chữ lại thành “trong sông”. Tuy nhiên, theo tôi, ghép chữ kiểu ấy để đặt tên cho một tỉnh thì quá gượng ép. Thí dụ: Kỳ Duyên là một tên riêng. Nhưng nếu đặt vào tự điển Hán Việt thì Kỳ có nghĩa là lạ lùng. Duyên có nghĩa là duyên dáng. Tuy vậy, không thể nói: Vì người phụ nữ đó có duyên lạ nên mới được đặt tên là Kỳ Duyên. Kỳ Duyên là một cái tên không tách hai chữ đứng riêng được.

Hà Nội cũng thế. Hà Nội là một cái tên. Nếu tách rời từng chữ thì Hà là sông, Nội là trong. Nhưng không thể tách rời hai chữ được vì đây không phải là một trường hợp ghép chữ giống như Đại Nội hay Thành Nội hay Quốc Nội.

Vua Lý Thái Tổ viết chiếu rời đô rõ ràng, có cắt nghĩa chuyện rồng bay lên trời và do đó mới gọi là Thăng Long. Còn vua Minh Mạng chọn tên Hà Nội để thay thế Thăng Long thì tôi chưa đọc được chiếu chỉ của vua hoặc tài liệu của một vị cận thần nào đó sống bên cạnh vua, ghi lại lời vua giải thích ý nghĩa của Hà Nội là “trong sông.” Huống chi theo cách dụng ngữ thông thường thì chúng ta chỉ hay nói “trong nhà, trong vườn, trong thành, trong lồng…” chứ chưa bao giờ nghe nói “trong sông” bởi nó rất tối nghĩa trong tiếng Việt. Khi chúng ta nghe “Đại Nội, Thành Nội hay Quốc Nội” chúng ta hình dung ngay ở bên trong một khuôn viên nào đó. Trong thành (thành nội), trong nước (quốc nội), tiếng Việt rất rõ ràng, ai nghe cũng hiểu ngay. Còn “trong sông” thì tiếng Việt nghe lạ tai quá, có thể nói là vụng về nữa! Một vùng đất nằm ở giữa hai con sông, như Tự Điển Nhà Nguyễn ghi, chúng ta cũng không gọi vùng đất ấy là “trong sông”! Nói đến sông thì thường chỉ nhắc đến hữu ngạn hay tả ngạn, hoặc bên này sông, bên kia sông mà thôi. Chẳng hạn sách Dân Tôi Nước Tôi ghi: “Hà Nội nằm ở hữu ngạn sông Hồng.” Hoặc Tự Điển Hán Việt của Nguyễn Lân ghi: “Hà Nội là tỉnh nằm cạnh sông Hồng.” Đơn giản và minh bạch!

Vua Minh Mạng vốn là một vị vua thông minh vào bậc nhất của nhà Nguyễn, từng sáng tác 5 tập thơ và 2 tập văn xuôi. Người hay chữ như thế mà nhìn một thành phố nằm giữa hai con sông, vua dùng chữ “nội” thì thật là khó tin!

Tất nhiên cũng có những trường hợp một vùng lãnh thổ được chia làm hai và người ta dùng chữ Nội và Ngoại để dễ phân biệt. Thí dụ Nội Mông, Ngoại Mông của Trung Hoa, hay ở Việt Nam khi nói đến xứ Thanh, chúng ta cũng nhắc đến Thanh nội hay Thanh ngoại. Nguyễn Tuân viết trong Vang Bóng Một Thời: “Cai Xanh là một tay chơi nổi tiếng ở mấy vùng Thanh nội và Thanh ngoại”. Trong phạm vị nhỏ hơn, có những ngôi làng, thí dụ làng Vĩnh An, được chia đôi bằng một con đường lớn, một nửa đông dân cư, thành hình lâu đời, được gọi là Vĩnh An nội. Nửa bên kia mới nới rộng, ít dân cư mà lại gần cánh đồng làng, người ta gọi là Vĩnh An ngoại. Nhưng cần lưu ý là tất cả những trường hợp này, hễ có Nội thì phải có Ngoại hoặc ngược lại, chứ không bao giờ chữ Nội hay Ngoại đứng một mình! Nghĩa là nếu cứ theo cách đặt tên kiểu này thì hễ có Hà Nội tất phải có Hà Ngoại mới hợp lý.

Cũng có thể Hà Nội chỉ có nghĩa là “trong sông”, chứ không vay mượn từ Trung Hoa. Tuy nhiên tôi phải xem được tư liệu ghi lời tuyên bố của vua Minh Mạng thì tôi mới tin. Chẳng hạn chiếu chỉ của vua viết: “Trẫm đứng ở đây nhìn ra sông Hồng, Trẫm thấy vùng đất này nằm ở phía trong sông, nên từ nay Trẫm đặt tên là Hà Nội”.

Tôi mong đọc được một văn bản đại khái như vậy. Chừng đó tôi sẽ đính chính lại lời phát biểu của mình. Nhưng cho đến nay, chưa thấy! Những người bảo vệ ý kiến này, như ông Nguyễn Trân, cũng không đưa ra được tài liệu nào xác minh ý của vua. Ngay cả cuốn Tự Điển Nhà Nguyễn khi cả quyết Hà Nội là trong sông, cũng không trưng ra một chứng từ nào làm nền tảng cho kết luận của mình.

Ai cũng biết bên Trung Hoa có rất nhiều địa danh trùng với Việt Nam, chẳng hạn như Thái Nguyên, Sơn Đông, Kiến An, Hà Đông, Hà Nội, Sơn Tây, Hà Nam, Trường Sa, Tức Mặc, Thiên Thai, v.v. Sự trùng hợp ấy có thể hoàn toàn là do tình cờ, mà cũng có thể là do Việt Nam lấy từ Trung Hoa bởi ngày xưa Trung Hoa được cha ông ta coi là thiên triều, cái gì của Trung Hoa cũng hay cũng đẹp. Hà Nội là một trong những trường hợp ấy. Huống chi vua Minh Mạng lại là người rất quý trọng thiên triều Trung Hoa. Từ Huế, vua ra Thăng Long nhận lễ phong vương của nhà Thanh, được vua chỉ thị tổ chức cực kỳ trọng thể năm 1821. Vua đem theo đoàn tùy tùng gồm hoàng thân, bá quan và quân lính tổng cộng 6,936 người! Sứ nhà Thanh đâu có đòi hỏi như thế! Đây chính là ý vua tự nguyện, thù tiếp sứ nhà Thanh vô cùng chu đáo suốt 33 ngày đêm! Một người say mê Trung Hoa như vậy thì có mượn một địa danh Trung Hoa đem về dùng ở nước ta cũng là chuyện không ngạc nhiên.

Ông thêm đoạn này làm cho lập luận của ông yếu hẳn đi! Hay nói đúng hơn, làm hỏng hết lập luận của ông. Bởi vì trên thực tế, 4 địa danh ông vừa kể không dính dáng gì đến Hà Nội, hay đúng hơn, không dính dáng một chút gì đến sông Hồng!

1. Trước hết, vua Minh Mạng đặt tên Hà Nội từ năm 1831. Mãi đến năm 1904, nghĩa là hơn 70 năm sau, khi vua Minh Mạng chết đã lâu rồi, Pháp mới lập ra tỉnh Hà Đông vốn tên cũ là Cầu Đơ. Dĩ nhiên theo tiếng Hán thì ai cũng biết Hà là sông, Đông là phía đông. Nhưng nhìn trên bản đồ, chúng ta sẽ thấy ngay Hà Đông nằm ở phía Tây chứ không phải phía Đông của sông Hồng. Có nghĩa là cái tên Hà Đông hoàn toàn biệt lập, không dính dáng gì đến sông Hồng. Đó là một địa danh đã có sẵn ở bên Tàu, được đem sang đặt cho một tỉnh ở miền Bắc nước ta như tôi nói ở trên!

Trong cuốn “Sổ Tay Địa Danh Việt Nam”, học giả lão thành Đinh Xuân Vịnh, người được cả giới trí thức Việt Nam ca ngợi về các công trình nghiên cứu lịch sử, đã viết về Hà Đông như sau:

“Có lẽ những người đặt tên tỉnh này (là Hà Đông) bởi vì tỉnh này là đất văn vật giống như đất Hà Đông bên Trung Hoa.” (Hà Đông nước ta là quê hương của nhiều nhân vật lịch sử và văn học lừng lẫy như Chu Văn An, Bùi Huy Bích, Nguyễn Phi Khanh, Ngô Thời Nhiệm, Nguyễn Trãi, v.v.)

Xin ghi chú thêm ở đây một điểm nhỏ để tránh nhầm lẫn: Sông Hoàng Hà bên Trung Hoa chảy dọc từ Bắc xuống Nam, đi ngang tỉnh Sơn Tây, và ở phía Đông sông này có vùng đất gọi là Hà Đông, nổi tiếng nhờ câu thơ “sư tử Hà Đông” của Tô Đông Pha, chọc người bạn sợ vợ là Trần Quý Thường. Như vậy thì Hà Đông của Trung Hoa mới thật sự nằm ở phía đông sông Hoàng Hà. Còn Hà Đông của Việt Nam thì nằm ở phía Tây sông Hồng Hà.

Về tên tỉnh Hà Đông ở nước ta, còn một ý kiến khác cho rằng: Vì cái tên Cầu Đơ (chữ Nôm) nghe “nhà quê” quá, nên các nhà nho ở vùng nay muốn thay bằng một địa danh đẹp hơn. Nhân nhớ đến câu trong sách Mạnh Tử: “Hà Nội hung tắc dĩ kỳ dân ư Hà Đông,” nghĩa là Hà Nội gặp nạn thì đưa dân về Hà Đông. Dựa theo câu này thì Hà Nội và Hà Đông phải gần bên nhau, theo cái thế môi hở răng lạnh. Vì vậy các cụ mới đổi tên Cầu Đơ thành Hà Đông, nằm sát bên Hà Nội, nhưng ở phía Tây sông Hồng (theo Hà Nội Nửa Đầu Thế Kỷ 20 của Nguyễn Văn Uẩn).

2. Hà Tây lại càng không dính dáng gì đến sông Hồng bởi Hà Tây chỉ là tên ghép của hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây. Vì diện tích tỉnh Sơn Tây quá nhỏ, nên năm 1963, chính quyền miền Bắc tách tỉnh Sơn Tây ra, một phần nhập vào Hà Nội, phần còn lại nhập vào Hà Đông và từ đó gọi là Hà Tây.

3. Tương tự như thế, Hà Nam mới do Pháp lập năm 1890, chỉ tồn tại hơn 20 năm rồi nhập vào Nam Định. Năm 1963 lại nhập thêm Ninh Bình và gọi là Hà Nam Ninh.

4. Cuối cùng là Hà Bắc, do 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang nhập chung lại năm 1963. Cũng chỉ được một thời gian ngắn rồi lại tách ra và giữ lại tên cũ, không còn Hà Bắc nữa.

Thành ra, đem Hà Đông, Hà Tây, Hà Nam, Hà Bắc để hỗ trợ cho Hà Nội thì không đứng vững chút nào, nếu không muốn nói là một dẫn chứng hoàn toàn sai lầm.

Câu chuyện địa danh Hà Nội tôi nói trên Paris By Night đã hơn 5 năm, thế mà đến nay vẫn còn có người đặt vấn đề. Thật ra thì tôi đã trả lời trong cuốn Kỷ Niệm Sân Khấu, in năm 2010, mà chắc nhiều người chưa đọc nên vẫn cứ tiếp tục đòi tôi phải lên tiếng.

Thưa bạn đọc,

Tôi vẫn thường nhắc đi nhắc lại, không phải điều gì tôi nói ra cũng đúng cả. Trên đời này làm gì có ai được Trời cho cái đặc ân siêu việt đó! Khi bàn chuyện khoa học hay toán học thì khỏi phải tranh cãi bởi nó quá minh bạch và cụ thể, như hai với hai là bốn. Hoặc những dữ kiện lịch sử đã quá rõ ràng như Lê Lợi đánh quân Minh, Quang Trung đánh quân Thanh, thì còn gì để ngờ vực nữa! Nhưng những kiến thức về nhân văn, tư tưởng hay triết học thì biên giới của sự đúng sai rất tương đối. Những điều tôi phát biểu chỉ là một ý kiến, một gợi ý chứ không thể là một chân lý muôn đời.

Duy có điều tôi xác minh là tôi luôn luôn dựa trên tài liệu đi kèm với lý luận, chứ không bao giờ chỉ dựa trên suy đoán hay cảm tính. Và vì dựa trên tài liệu cho nên có những điều hôm nay mình thấy đúng mà có thể chỉ ngày mai đã sai rồi khi phát hiện ra những tài liệu mới. Chẳng hạn từ nhỏ chúng ta đều học “Nước Việt Nam có bốn ngàn năm lịch sử”. Nhưng gần đây, nhờ khám phá ra cuốn Việt Sử Lược, viết vào thế kỷ 13, các học giả mới biết vua Hùng lập nước Văn Lang vào khoảng 700 năm trước CN, lúc đó là đời Chu Trang Vương bên Tàu. Có nghĩa là tính từ cái mốc lập quốc của Hùng Vương, kéo dài cho đến hôm nay, cộng chung lại cả một chiều dài lịch sử chỉ có khoảng 2,700 năm thôi, chứ không phải là 4,000 năm như các bài học cũ.

Nhưng biết đâu trong tương lai lại phát hiện thêm một tài liệu sử nào khác đáng tin cậy và con số 2,700 năm lịch sử kia sẽ không còn đứng vững nữa!

Để kết thúc bài này, tôi xin trích lại một đoạn tôi đã viết trong cuốn Kỷ Niệm Sân Khấu, trang 212, như sau:

This content is also available in:

Nguồn Gốc Tên Gọi An Giang

Địa danh vùng đất An Giang có từ khi nào và thay đổi bao nhiêu lần qua thời gian? Những ai người An Giang có bao nhiêu người biết đến, những ai từng đến An Giang có khi nào hỏi đến? Tên gọi nào cũng có gốc tích của nó và tên gọi vùng đất An Giang này có nhiều điều đáng nói đến.

Vùng đất Tầm Phong Long thuộc về Việt năm 1757 do vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng đất trả ơn cho việc được chúa Nguyễn giúp đỡ khi đất nước Chân Lạp nổi lên các cuộc biến loạn. Cai cơ Nguyễn Cư Trinh vâng lệnh Chúa tiếp nhận đất này và chia vùng đất này thành 3 đạo : đạo Đông Khẩu ở xứ Sa Đéc, đặt đạo Tân Châu ở xứ cù lao Diến (hay cù lao Giêng) trên Tiền Giang, đặt đạo Châu Đốc ở xứ Châu Đốc trên Hậu Giang, lấy quân dinh Long Hồ để trấn áp, chặn giữ những nơi yếu hại ở địa đầu.

Vùng đất Tầm Phong Long rộng lớn trước kia được chia cắt là cơ sở định hình cho 3 tỉnh Tây Nam Kỳ của Nam Kỳ lục tỉnh.

Địa danh ban đầu là đạo Châu Đốc, tên gọi Châu Đốc có trước vì thế đến ngày nay nhiều người quen thuộc tên Châu Đốc hơn An Giang. Vậy nếu ai nói biết Châu Đốc mà không biết An Giang thì cũng không phải chuyện gì đáng kể lắm.

Đạo Châu Đốc được đổi tên thành Châu Đốc Tân Cương năm 1808 để thấy tầm quan trọng của vùng đất này, nơi biên cương mới của nhà Nguyễn.

Tên gọi vùng đất này được thay đổi lần nữa, địa danh An Giang chính thức ra đời năm 1832, do vua Minh Mệnh thực hiện cải cách hành chính, chia Nam Kỳ thành 6 tỉnh. Tỉnh An Giang trong Nam Kỳ Lục tỉnh khá rộng lớn, phía bắc từ thượng nguồn sông Tiền cho đến phía nam sông cái biển Đông (bao gồm tỉnh Đồng Tháp, Hậu Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng ngày nay), phía tây giáp phủ Nam Vang (trước là Cao Miên nay là Campuchia) từ cửa sông Tiền đến sông Hậu và tiếp giáp sông Cái Bồn (Kiên Giang).

Tên gọi An Giang có thể giải nghĩa là dòng sông an lành, để định cư lâu dài khi mà vua Minh Mạng thực hiện chính sách di dân khẩn hoang lập làng, khuyến khích các cư dân vào vùng đất này khai phá.

Sau khi Pháp chiếm được Nam Kỳ lục tỉnh, Pháp thay đổi địa giới hành chính, năm 1899, Nam kỳ từ 6 tỉnh tách thành 19 tỉnh. Tỉnh An Giang được tách thành 5 tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc, Cần Thơ, Sóc Trăng. Địa danh An Giang không còn trên bản đồ, 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc là định hình cho tỉnh An Giang ngày nay.

Sau Cách mạng tháng 8/1945, hình thành Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, bên cạnh tên gọi theo địa giới hành chính của Pháp thì nơi này có tên gọi mới là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu, phân chia theo sông Tiền và sông Hậu.

Trong 2 năm 1950 – 1951, tên gọi Long Châu Tiền và Long Châu Hậu lại đổi tên thành Long Châu Hà (sáp nhập Long Châu Hậu và Hà Tiên) và Long Châu Sa (sáp nhập tỉnh Sa Đéc vào tỉnh Long Châu Tiền).

Từ năm 1945 đến 1954, có 2 cách phân chia địa giới và đặt địa danh cho vùng đất này, một theo Pháp, một theo Ủy ban kháng chiến. Người dân thuộc khu vực kháng chiến thì quen thuộc với Long Châu Tiền (hoặc Long Châu Hà), Long Châu Hậu (hoặc Long Châu Sa), có khi họ nhầm lẫn tên gọi mới và cũ. Người dân thuộc khu vực của Pháp vẫn dung tên gọi tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc. Đến nay thì tên gọi Long Châu Tiền hoặc Long Châu Hà rất ít người nhớ đến, có khi nghe đến thấy là lạ.

Dưới thời chính quyền Sài Gòn, năm 1956, tên gọi An Giang được sử dụng lại, tỉnh An Giang bao gồm tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc (theo địa giới của Pháp đến 1954). Sau đó, từ năm 1964 đến năm 1975, tách thành tỉnh Châu Đốc và tỉnh An Giang.

Theo Xứ ủy Nam kỳ, năm 1954, lập lại tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc thay tỉnh Long Châu Hà và tỉnh Long Châu Sa. Đến năm 1957, hợp nhất tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc thành tỉnh An Giang. Sau đó lại tách ra vào năm 1971, tỉnh An Giang tách thành tỉnh An Giang và tỉnh Châu Hà (địa giới Châu Đốc). Đến 1974, lần nữa bỏ địa danh An Giang quay lại với địa danh Long Châu Tiền và Long Châu Hà. Sự thay đổi địa danh này làm cho sự phân chia ranh giới khá phức tạp.

Đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, tên gọi An Giang được chính thức sử dụng lại cho đến ngày nay, địa giới An Giang ngày nay cũng được hình thành, bao gồm Long Xuyên và Châu Đốc.

Như vậy, địa danh An Giang được đặt tên cho vùng đất này từ năm 1832, trở thành 1 trong 6 tỉnh đầu tiên của Nam Kỳ, vùng đất có những dòng sông hiền hòa và an lành, vì thế qua nhiều lần tách nhập địa giới và thay đổi tên gọi nhưng cuối cùng An Giang vẫn là tên gọi được gắn liền đến ngày nay. Có lẽ địa danh phản ánh đúng thực cuộc sống an bình của cư dân trên những dòng sông.

Sưu tầm

Nguồn Gốc Địa Danh Bến Tre

Nguyễn Văn Âu nhận xét về địa danh ở Bến Tre như sau: “Tuy là vùng đất mới, song địa danh ở đây không phải là đơn giản” . Điều này được thấy rõ hơn qua việc có nhiều ý kiến rất khác nhau khi giải thích về địa danh Bến Tre.

Trong “Địa chí Bến Tre” có ghi địa danh Bến Tre có cấu tạo: địa thế tự nhiên + tên loại thảo mộc. Với 2 cách hiểu:

Nơi có nhiều tre mọc như Sóc Tre, Bến Giá .

Nơi buôn bán tre nứa từ phía thượng nguồn xuôi về như Bến Tranh, Bến Súc. Và khẳng định Bến Tre là từ thuần Việt. Và ở thời Ngô Đình Diệm Bến Tre đổi thành Trúc Giang (sông tre). Thực ra từ thời Minh Mạng Bến Tre đã được Hán hóa là Trúc Giang.

Tương tự, Nguyễn Phương Thảo cũng cho rằng danh từ riêng Bến Tre cần phải đặt trong hệ thống các địa danh theo mẫu : bến + X ở Bến Tre như bến Rớ, bến Miễu, bến Chùa, bến Giá, bến Cát…xóm Bến Trại, rạch Bến Xe và cho rằng chúng được đặt theo một kiểu tư duy chung”.

Mở đầu quyển khảo cứu “Monographie de la province de Bến Tre” của Imp.L.Ménard năm 1903 có ghi :

“Bến Tre était autrefois occupé par les Cambdgiens qui l’appelèrent Sốc Tre (pays des bambous), à cause de nombreux giồng couverts de bambous dont le pays était parsemé. Plus tard, les Annamites fondèrent un marché qu’ils appelèrent BếnTre (débarcadère en bambous). Le rạch qui passe devant le marché et va se perdre dans le Hàm Luông, porte le même nom”.

Tạm dịch: “Bến Tre ngày xưa người Khơme chiếm trước và gọi là Sốc Tre …vì trong xứ trên các giồng có tre mọc đầy. Sau đó người An Nam lập chợ buôn bán và gọi chợ Bến Tre, tức bờ sông hay bến bằng tre. Con rạch chảy ngang chợ này trổ nước xuống cửa Hàm Luông cũng mang tên rạch Bến Tre y như vậy”.

Trái ngược với các ý kiến trên, tác giả Vương Hồng Sển cho rằng Bến Tre là do hiểu sai từ tiếng Khơme Srok kompong Trey hay Srok kompong Treay mà trey hay treay có nghĩa là cá (Ví dụ như là trey kinh thor: cá sặt lớn hay cá dù tho). Theo tác giả như vậy thì Sork kompong trey hay Sork kompong treay sẽ có nghĩa là Bến Cá và khi Hán hóa thì sẽ là Ngư Tân chứ không phải là Trúc Giang .

Cùng ý kiến với Vương Hồng Sển, tác giả Lã Xuân Thọ trong “Đồng Nai văn tập”, số 13, cũng đã cho rằng không thể có sự nhầm lẫn như vậy được. Như vậy theo quan niệm này thì Sork Kompong Trey sẽ là Xứ Cá, Bến Cá.

Còn nhận định của Nguyễn Duy Oanh về địa danh Bến Tre thì nội dung hầu như bao gồm tất cả các ý kiến được nêu ở trên. Có hai thuyết mà tác giả đưa ra:

Thứ nhất: Bến Tre trước kia là sốc của người Miên có tên là Sốc Tre (Srok Trey hay Sork Treay). Trey có nghĩa là cá như: Trey Prek -cá sông; Trey Sramot- cá biển; Trey Damrey- cá voi…Có lẽ xứ này trước kia có nhiều cá nên hiện giờ còn nhiều con rạch mang tên rạch Cá Lóc, rạch Cá Trê, rạch Ba Tri Cá…Điều đó còn minh chứng qua nhiều câu ca dao sau đây:

Sông Bến Tre nhiều hang cá ngátĐường Ba Vát gió mát tận xươngAnh có thương em thì nối sợi chỉ hườngChớ bán rao cho lắm, hãy chừa đường xuống lên.

HoặcBa phen quạ nói với diềuNgã ba Bến Rớ có nhiều cá tôm

HoặcChợ Ba Tri thiếu gì cá biểnAnh thương nàng anh nguyện về đây

Thứ hai: có thuyết cho rằng Sốc Tre là vùng có nhiều tre. Vùng này có nhiều giồng mà trên đó tre mọc um tùm. Tác giả cho rằng theo thuyết trên chính vì Sốc Tre có nhiều tre nên ghe thuyền ghé bến này chở tre, mà ra danh từ Bến Tre. Tác giả còn nói thêm rằng Bến Tre là do những chữ “bến thuế của sốc tre “thu ngắn lại.

Bùi Đức Tịnh thì cũng không chấp nhận ý kiến là ngày xưa ở bến sông có tre mọc nhiều hoặc có sự buôn bán tre phát triển ở vùng đất Bến Tre vì ngày nay không để lại dấu vết gì để chứng tỏ. Theo tác giả thì về phương diện ngôn ngữ “tre” là một hình thức Việt hóa của từ Khơme “trây” có nghĩa là cá, và tác giả còn nói thêm là thực tế chợ Bến Tre từ trước đến nay bán khá nhiều cá, vừa cá biển vừa cá đồng và gần chợ có cây cầu mang tên cầu Cá Lóc.

Theo cách giải thích của những người dân sống nơi đây thì Bến Tre là bến có nhiều tre mọc. Như vậy có hai luồng ý kiến khác nhau trong việc nhận định về nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Bến Tre, một bên cho rằng địa danh này được cấu thành theo địa thế tự nhiên + tên loài cây có nhiều ở đó. Kiểu này thì địa danh Bến Tre là từ thuần Việt.

Ý kiến thứ hai thì lại ngược lại, địa danh Bến Tre có nguồn gốc Khơme: Sork Kompong Trey/Treay (nghĩa là: xứ bến cá). Mỗi cách lí giải của các tác giả đều đưa ra những bằng chứng để thuyết phục, nhưng chung qui cũng còn rất mơ hồ, biết rằng trước khi lưu dân từ miền Trung vào đất Bến Tre lập nghiệp thì đã có người Khơme sinh sống trước ở đó: “Trước khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam, người Việt đã lập ở đó những tổ chức. Những nhóm người di cư đã xây dựng làng xóm, hay tới ở chung với người Cao Miên” [Địa chí Bến Tre, tr.284], nhưng chỉ dựa vào những địa danh còn lưu lại ở đây là xứ có nhiều cá, tôm để thuyết phục thì chưa đủ hợp lí vì hầu như ở các tỉnh miền tây Nam Bộ, xứ nào cũng nhiều tôm, cá, mặc dù tiếng Khơme Sork Kompong Trey có âm gần với tiếng Sốc Tre. Còn những ý kiến mà cho rằng ở vùng đất cù lao này xưa kia có nhiều tre mọc nên gọi là Bến Tre thì đã được Châu Đạt Quan (một xứ thần của nhà Nguyên bên Trung Quốc) trong chuyến đi sứ sang kinh đô Angkor của nước Chân Lạp vào năm 1296 bằng đường thủy qua ngõ sông Cửu Long, đã miêu tả vùng đất Nam Bộ trong đó có Bến Tre như sau: “Những cửa rộng của dòng sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chổ trú sum sê. Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu. Vào nửa trong cửa sông, người ta mới thấy những cánh đồng hoang không có một gốc cây nào. Xa nửa tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy. Hàng trăm, hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bầy. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm” [Địa chí Bến Tre, tr.24 -25].

Tuy nhiên việc xác định đúng, chính xác, thuyết phục địa danh Bến Tre thì không dễ dàng gì, vì cho đến nay các nhà nghiên cứu cũng còn đang bỏ ngỏ chưa đi đến kết luận cuối cùng. Cho nên tác giả Nguyễn Văn Âu trong quá trình tìm hiểu địa danh này, ở cuối bài đã nói: “Cho tới nay địa danh Bến Tre vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để vấn đề được sáng tỏ hơn vì đây là một vùng đất nông nghiệp trù phú với một truyền thống đấu tranh kiên cường trong lịch sử dân tộc. Còn Bùi Đức Tịnh thì: “Về địa danh Bến Tre, không nên chỉ hiểu theo lối đơn giản mà bỏ mất khả năng tìm một từ nguyên có thể thích hợp với điều kiện lịch sử và thực tế hơn” .

Ý Nghĩa Tên Gọi Hà Nội

au khi diệt triều Tây S ơn, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên ( vốn là đất đai của kinh thành Thăng Long cũ ) thành phủ Hoài Đức và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc ngang với ) vị vua này tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn, xoá bỏ Bắc Thành ( gồm 11 trấn và 1 phủ trực thuộc ) ở miền Bắc, chia cả nước ra làm 29 ng. Tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Hoài Đức của trấn Tây Sơn, và ba phủ Ứng Hoà, Thường Tín, Lý Nhân của trấn Sơn Nam. trấn tức trực thuộc trung ương mà đại diện là Tổng trấn Bắc Thành. Đến năm Minh Mạng thứ 12 ( tỉnh trong đó có 15 tỉnh trực thuộc trung ươ

– phủ Hoài Đức gồm 3 huyện : Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêmng Mỹ – Thanh Oai ) – phủ Thường Tín gồm 3 huyện : Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên – phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện : Sơn Minh ( nay là Ứng Hòa ), Hoài An ( nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức ), Chương Đức ( Nay là Chươ – phủ Lý Nhân gồm 5 huyện : Nam Xang ( nay là Lý Nhân ), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục

Hà Nội có nghĩa là phía trong các con sông, vì tỉnh mới Hà Nội được bao bọc bởi 2 con sông : sông Hồng và sông Đáy. Nh ư vậy tỉnh Hà Nội lúc đó gồm thành phố Hà Nội, nửa chính đông tỉnh Hà Tây ( chính là tỉnh Hà Tây thời Pháp thuộc ) và toàn bộ tỉnh Hà Nam. Như vậy rõ ràng tỉnh Hà Nội có đại bộ phận nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đ

ười cho rằng chữ Hà Nội là lấy từ câu trong sách Mạnh Tử ( Thiên Lương Huệ Vương ) : “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ tức ư Hà Nội” ( nghĩa là : Hà Nội bị tai hoạ thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội ). Nguyên ở Trung Quốc thời Mạnh Tử ( thế kỷ III chúng tôi ) phía bắc sông Hoàng gọi là đất Hà Nội, phía Nam là Hà Ngoại. Vùng đất Hà Nội ấy nay ứng với tỉnh Hà Bắc. Lại do sông Hoàng khi tới địa đầu tỉnh Sơn Tây ngày nay thì chạy theo hướng Bắc – Nam, trở thành ranh giới giữa hai tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây. Sơn Tây ở phía đông sông Hoàng nên thời cổ có tên là đất Hà Đông, còn Thiểm Tây là Hà Tây. Thực sự cũng có việc dùng câu sách Mạnh Tử nói trên, nhưng đó là trường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, người ta mới dùng tên Hà Đông ( dựa vào tên Hà Nội đã có từ trư

Cập nhật thông tin chi tiết về Truy Nguồn Gốc Tên Hà Nội trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!