Xu Hướng 2/2024 # Vấn Đề Chuẩn Hoá Từ Vựng Tiếng Việt (Phần 4) # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Vấn Đề Chuẩn Hoá Từ Vựng Tiếng Việt (Phần 4) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

4. Chuẩn hoá các tên riêng (phần đầu)

Tên riêng là gì? Câu hỏi tưởng như đơn giản nhưng không phải không có vấn đề. Trong các sách ngữ pháp phổ thông, người ta đã phân biệt danh từ chung và danh từ riêng. Danh từ chung là danh từ dùng để gọi những sự vật thuộc cùng một loại, danh từ riêng là những danh từ dùng để làm tên riêng để gọi tên từng sự vật, đối tượng riêng lẻ. Những tên người như: Hồ Xuân Hương, Ngô Văn Sở,… Những tên đất như: Nghệ An, Thanh Hoá,… Những tên sông như: Hồng Hà, Cửu Long,… Những tên công trình như: cầu Long Biên, chùa Một Cột, Truyện Kiều,… Những tên gọi các sự kiện lịch sử như: Hội nghị Paris, Cách mạng Tháng Tám,… Đó đúng là những tên gọi của những cá nhân hoặc cá thể. Nhưng tên gọi của các dân tộc như Việt Nam, Lào, Ê-đê, Tày, Nùng,… lại chỉ một loại người, chứ không phải chỉ từng cá nhân mà vẫn lại được gọi là tên riêng. Trong thiên hà của chúng ta, chỉ có một mặt trời, một mặt trăng, nhưng mặt trời, mặt trăng lại không được coi là tên riêng. Đến tên các tổ chức, cơ quan, đoàn thể, như: Bộ Ngoại giao, Vụ Tổ chức Cán bộ, Chính phủ, Quốc hội,… thì ranh giới giữa cái chung và cái riêng là ở đâu? Có lẽ tên riêng nên được coi là những từ, ngữ dùng để gọi tên những thực thể vật chất và tinh thần có vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá-xã hội, tồn tại với tư cách là những cá thể trong tư duy của từng dân tộc. Đối với người Việt, đó là:

Những tên chỉ người, tên cá nhân, dân tộc,… Ví dụ: Nguyễn Trãi, Việt Nam,…

Những tên chỉ nơi chốn, núi, sông, hồ, tỉnh,… Ví dụ: (núi) Tản Viên, (sông) Hồng, (tỉnh) Nghệ An,…

Những từ ngữ chỉ công trình xây dựng và công trình văn hoá. Ví dụ: (chùa) Dâu, (cầu) Long Biên, Truyện Kiều,…

Những từ ngữ chỉ các cơ quan, tổ chức xã hội,… Ví dụ: Đại học Quốc gia Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo,…

Những từ ngữ chỉ từng thời kì, từng sự kiện lịch sử,… Ví dụ: (thời kì) Lí-Trần, Cách mạng Tháng Tám, Hội nghị Paris, Nghị quyết 8 BCHTWĐ,…

Cần phân biệt tên riêng tiếng Việt và tên riêng không phải tiếng Việt. Đối với tên riêng tiếng Việt, vấn đề đặt ra là phải xác định các thành tố của tên riêng và cách viết hoa tên riêng như thế nào cho hợp lí.

Trước hết, phải nói về tên người, tên người Việt ở dạng đầy đủ gồm ba thành tố:

Yếu tố Thị được dùng để phân biệt giới tính, hễ là nữ thì có thể dùng Thị. Hiện nay có xu hướng bớt dùng từ Thị phân biệt giới tính. Phần đệm có xu hướng hoặc gắn với phần tên cá nhân để tạo thành tên ghép của cá nhân, như: Nguyễn Mĩ Hạnh, Nguyễn Thu Thuỷ hoặc gắn với tên họ để tạo thành họ ghép, ví dụ: một người bố họ Phan, mẹ họ Trần thì có thể sẽ đặt tên con là Phan Trần Mĩ. Một họ phát triển thành nhiều chi, mỗi chi có thể lấy một từ khác nhau để phân biệt, ví dụ:

Có họ lại dùng tên đệm để phân biệt các hệ khác nhau, ví dụ:

Khi đặt tên, người ta thường gửi gắm nhiều tâm tư, tình cảm, ước vọng của mình vào đó, nhưng dù là tên đơn hay tên ghép, dù là họ đơn hay họ ghép, thì xét về bản chất cũng chỉ là dấu hiệu để phân biệt cá thể này với cá thể khác mà thôi. Vì vậy, cần viết hoa tất cả các âm tiết và không có gạch nối. Điều này đã được Hội đồng Chuẩn hoá Chính tả và Thuật ngữ quy định từ năm 1983, nên tuyên truyền rộng rãi để thực hiện thống nhất.

Về tên gọi chỉ nơi chốn (các địa danh), quan niệm về các thành tố của nó chưa hẳn đã thống nhất, nên cách viết hoa cũng không thống nhất. Chẳng hạn:

Chúng tôi nhận thấy, các từ Hồ trong Hồ Gươm, Hồ Tây; Sông trong Sông Hương; Tỉnh trong Tỉnh Hà Tây đều là danh từ chung, không phải là thành tố của tên riêng. Hiển nhiên, các danh từ chung có thể được dùng để cấu tạo tên riêng, nhưng khi đó nó không còn mang ý nghĩa ban đầu nữa. Ví dụ: núi Trường Sơn ( sơn cũng là núi), sông Hồng Hà ( hà cũng là sông), thị trấn Chợ Đồn, đảo Hòn Bóng, núi Hòn Rau, núi Hòn Đấu. Đã là tên riêng thì phải kết hợp được với một danh từ chung chỉ loại của nó ở trước. Ta không thể nói hồ Hồ Tây, hồ Hồ Gươm, hồ Hồ Than Thở,… nên chỉ Tây, Gươm, Than Thở mới là tên riêng.

Khi đã xác định rõ thành tố của tên riêng rồi thì tất cả các âm tiết trong tên riêng chỉ nơi chốn đều viết hoa như quy định của Hội đồng Chuẩn hoá Chính tả và Thuật ngữ.

Tên riêng chỉ các tổ chức xã hội cũng chưa được quan niệm thống nhất về các thành tố và cách viết của chúng. Hội dồng Chuẩn hoá Chính tả và Thuật ngữ năm 1983 quy định: Tên tổ chức, cơ quan chỉ viết hoa âm tiết đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên. Ví dụ:

Trường đại học bách khoa Hà Nội

Trong thực tế, chúng ta còn gặp những dạng như:

Trường Đại học bách khoa Hà Nội

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

trường Đại học bách khoa Hà Nội

trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Đối tượng biểu thị của nhân danh và địa danh là những cá nhân, cá thể riêng biệt, còn đối tượng biểu thị của những tên gọi cơ quan, tổ chức xã hội tuy cũng là những thực thể nhưng chỉ tồn tại với tư cách là những cá thể trong tư duy, cho nên những ý niệm được dùng trong tên chỉ cơ quan, tổ chức xã hội có vai trò quan trọng trong việc nhận diện, phân biệt cá thể này với cá thể khác. Trong khi các ý niệm được dùng trong nhân danh, địa danh chỉ bổ sung thêm sắc thái biểu cảm, hoặc văn hoá chứ không thể căn cứ vào đó để nhận diện đối tượng. Một người xấu xí vẫn có thể đặt tên là Mĩ, một người tham lam, ích kỉ vẫn có thể đặt tên là Thảo. Ý nghĩa của các từ ngữ trong tên riêng chỉ cơ quan, tổ chức xã hội về cơ bản vấn giống ý nghĩa của chúng trong khi sử dụng tự do. Các từ ngữ chỉ gắn kết với nhau để tạo thành một tên gọi cố định mà thôi. Do đó, yếu tố đầu tiên trong tên gọi chỉ cơ quan, tổ chức xã hội là những yếu tố chỉ loại đơn vị, như: bộ, cục, vụ, viện, đảng, đoàn, hội, uỷ ban, mặt trận, ban, trường,… Những yếu tố khác có giá trị hạn chế về mặt tính chất, chức năng, nhiệm vụ, địa điểm,… Tất cả các yếu tố ấy đều có giá trị như nhau trong việc phân biệt và nhận diện đối tượng nên mỗi chữ cái đầu của mỗi từ ngữ thể hiện những ý niệm ấy đều nên viết hoa.

Như thế, dạng đầy đủ của tên gọi phải là: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Trong ngữ cảnh nhất định, có thể tỉnh lược thành Trường Đại học Bách khoa, Trường Bách khoa, Bách khoa.

Tên các thời kì lịch sử, các sự kiện lịch sử, các danh hiệu tôn vinh cũng nên viết hoa theo cách đó. Ví dụ:

Tên gọi các chức vụ như chủ tịch, thủ tướng, bộ trưởng, viện trưởng v.v… không phải là tên riêng nên không cần phải viết hoa. Trong thực tế, để biểu thị ý kính trọng, người ta có thể viết hoa âm tiết đầu của tên gọi chức vụ nhưng không nên đưa ra những quy định bắt buộc về điều này.

Vấn Đề Chuẩn Hoá Từ Vựng Tiếng Việt (Phần 5)

4. Chuẩn hoá các tên riêng (phần cuối)

Đối với những tên riêng không phải tiếng Việt, cần phải nhận thức rõ bản chất và vị trí của chúng trong hệ thống từ vựng tiếng Việt. Rõ ràng các tên riêng không phải tiếng Việt là một loại từ đặt biệt hay một loại kí hiệu, không phải là bộ phận từ vựng được cấu tạo trong tiếng Việt. Yêu cầu chủ yếu trong việc chuẩn hoá lớp từ này là phải được ghi, được dùng chính xác nhất để bảo đảm sự liên hệ không gây nhầm lẫn với cá nhân, cá thể, đơn vị mang tên đó. Những quy định của Hội đồng Chuẩn hoá Chính tả và Thuật ngữ năm 1983, theo chúng tôi, về cơ bản là hợp lí. Cụ thể là:

Nếu chữ viết nguyên ngữ dùng chữ cái Latin thì giữ nguyên dạng như trong nguyên ngữ, chỉ được bớt đi các dấu phụ. Ví dụ: Shakespeare, Paris, Wroclaw Petofi (lược dấu phụ ở chữ cái l và chữ cái o – Wrocław, Petõfi).

Nếu nguyên ngữ dùng thuộc một hệ thống chữ cái khác thì áp dụng lối chuyển tự chính thức sang chữ cái Latin. Ví dụ: Majakovski, Moskva, Lomonosov (theo lối chuyển tự chính thức của Liên bang Xô Viết).

Nêu nguyên ngữ không dùng chữ viết ghi âm thì dùng một cách phiên âm chính thức bằng chữ cái Latin (thường là cách phiên âm có tính phổ biến trên thế giới). Ví dụ: Kyoto.

Trong trường hợp trên thế giới đã quen dùng một tên riêng viết bằng chữ cái Latin mà có khác với nguyên ngữ (thường là tên một số nước, thành phố) thì dùng hình thức tên riêng phổ biến đó. Ví dụ: Hungary (trong nguyên ngữ là Maggarorszag), Bangkok (trong nguyên ngữ là Krung Thep hoặc Krung Pattannakosin).

Đối với những tên sông, núi thuộc nhiều nước (và do đó, có những tên khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau) thì dùng những hình thức tương đối phổ biến trên thế giới, nhưng trong những văn bản nhất định, có thể dùng hình thức của địa phương. Ví dụ: sông Danube có thể tuỳ văn cảnh mà được dùng dưới các dạng khác nữa: Donau (Đức), Duna (Hungary), Dunares (Rumani).

Những tên riêng hay bộ phận của tên riêng (thường là địa danh) mà có nghĩa thì chỉ dịch nghĩa khi đó là chủ trương chung của các ngôn ngữ thế giới. Ví dụ: Biển Đen, Guinea Xích Đạo.

Những tên riêng đã có hình thức quen thuộc thì nói chung không cần thay đổi. Ví dụ: Anh, Pháp, Hi Lạp, Bắc Kinh, Lỗ Tấn…

Tuy vậy, cũng có thể chấp nhận sự tồn tại hai hình thức của một số tên riêng trong những phạm vi sử dụng khác nhau. Ví dụ: La Mã (thành La Mã, đế quốc La Mã, chữ số La Mã) và Roma (thủ đô Roma).

Như ta đã biết, thuật ngữ khoa học, kĩ thuật tự thân nó mang tính chất quốc tế, những khái niệm khoa học, kĩ thuật là tải chung của nhân loại. Về hình thức, dù phiên âm là a xít, a-xê-ti-len, at môt phe, at-spi-rin cũng không dân tộc gì hơn cách viết nguyên dạng: acid, acetilen, atmosphe, aspirin.

Những tên riêng không phải tiếng Việt, tuy không có tính quốc tế nhưng cũng không phải là bộ phận từ vựng đòi hỏi phải có sắc thái dân tộc. Phiên âm thuật ngữ và tên riêng nước ngoài thực chất là để dễ đọc, chứ không phải là để dân tộc hoá. Dễ đọc cũng không phải là cơ sở để dễ nhớ và dễ hiểu. Ngược lại, phiên âm dễ dẫn đến nhầm lẫn, thiếu chính xác. So sánh:

Nhiều người nước ngoài tỏ ý không hài lòng khi tên riêng của họ được phiên âm không sát trên sách, báo của ta. Như vậy, dễ đọc mà làm sai lạc thông tin thì lợi bất cập hại, là không khoa học. Hơn nữa, dễ đọc cũng chưa hẳn là có tính đại chúng. Quả là đối với quần chúng còn ít biết ngoại ngữ thì việc đọc, nhớ, viết tên riêng nước ngoài theo nguyên dạng hoặc chuyển tự là khó. Nhưng quần chúng sẽ mãi thế sao? Với sự phát triển của giáo dục, của khoa học và kĩ thuật, quần chúng sẽ ngày càng quen thuộc với những gì mà hiện nay còn ít nhiều bỡ ngỡ.

Có người nghĩ rằng chúng ta viết báo, viết sách chủ yếu là để người Việt Nam hôm nay đọc chứ không phải cho người Việt Nam trong tương lai hoặc người nước ngoài đọc. Vì thế, phiên theo ngữ âm sẽ lợi hơn. Nhưng một mẩu tin như: “Billy Crystal – chàng trai người Mĩ cao 2,30m – vừa được đạo diễn Michael Lehman mời đóng vai chính trong bộ phim Gã khổng lồ” (Tạp chí Truyền hình, số 13/1998) vẫn chẳng bị rơi vãi lượng thông tin nào mặc dù các tên riêng đều được giữ nguyên dạng. Dù không đọc được hoặc đọc sai hai tên riêng thì người ta vẫn hiểu có một người Mĩ cao 2,30m được một đạo diễn mới đóng phim Gã khổng lồ. Người ta chỉ cần nhớ hai tên riêng khi nào cần làm quen với họ, và khi đó chắc chắn cách viết nguyên dạng sẽ thuận lợi hơn.

Những điều vừa trình bày ở trên cần áp dụng nhất quán, triệt để trong các phong cách khoa học, chính luận, hành chính. Trong văn chương cũng như trong khẩu ngữ, vẫn có thể chấp nhận những tên riêng có hình thức phiên âm, đặc biệt là những tên riêng phiên âm có dụng ý tu từ.

Các thuật ngữ khoa học và các tên riêng không phải tiếng Việt chủ yếu được dùng trong văn viết, vì vậy trong khi không cự tuyệt phương thức phiên âm, chúng ta vẫn cần nhận thấy phương thức giữ nguyên dạng hoặc chuyển tự mới là quan trọng, về cả lí luận lẫn thực tiễn đều chứng tỏ chuẩn là cái gì không đứng yên tại chỗ mà luôn luôn vận động, phát triển. Muốn nắm bắt nó phải nỗ lực cố gắng, nếu không, chúng ta mãi mãi không bao giờ đạt đến chuẩn. Đây là vấn đề nhận thức của cả người viết lẫn người đọc, nhận thức của cơ quan truyền thông đại chúng và cơ quan quản lí nhà nước.

Các nhà văn hoá, nhà báo, nhà khoa học không phải ai cũng biết ngoại ngữ, mà có biết thì cũng chỉ biết một vài ngoại ngữ chính thôi. Vì thế, khi viết không nên dễ dãi, cần có trách nhiệm với từng từ, từng chữ mà mình viết ra, chữ nào cần tra cứu, phải tra cứu đến ngọn ngành rồi hãy viết.

Về phần chỉ đạo, đã đến lúc thành lập Hội đồng Chuẩn hoá tiếng Việt cấp nhà nước, sớm có những quy định thống nhất trong cả nước. Trường học và cơ quan thông tin đại chúng sẽ là nơi tuyên truyền và gương mẫu thực hiện những quy định chung đó. Ngành ngôn ngữ học có trách nhiệm biên soạn các từ điển thuật ngữ, từ điển tên riêng không phải tiếng Việt, từ điển chính tả để hướng dẫn cách viết và cách đọc thống nhất. Trước mắt, cần tìm hiểu và công bố rộng rãi nguyên tắc chuyển tự Latin của tất cả các hệ chữ viết trên thế giới để người sử dụng tiếng Việt có thể tra cứu dễ dàng.

Chuẩn hoá tiếng Việt là một công việc khó khăn, lâu dài, nhưng nếu chúng ta đồng lòng thì mọi trở ngại đều có thể vượt qua.

Theo Nguyễn Thiện Giáp. Từ vựng học tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 2002, trang 330-333.

Trở lại: 4. Chuẩn hoá các tên riêng (phần đầu)

Từ Vựng Tiếng Trung Chủ Đề Trong Game Pubg Trung Quốc

3.9

/

5

(

11

votes

)

PUBG Trung Quốc là game gì?

PUBG là một trò chơi điện tử hành động, sinh tồn nhiều người chơi trực tuyến do PUBG Corporation, một chi nhánh của công ty phát triển game Bluehole, có trụ sở chính được đặt tại thành phố Seoul, Hàn Quốc thiết kế, phát triển và phát hành.

Hiện tại người chơi PUBG có ba lựa chọn: Bản quốc tế, bản Việt và bản Trung. Ở mỗi một trận chiến sinh tồn tối đa có một trăm người chơi chiến đấu, nơi mà người chơi phải sinh tồn trước 99 người còn lại để trở thành người sống sót cuối cùng. Người chơi có thể chọn để chơi solo, hoặc tham gia một nhóm nhỏ tối đa bốn người. Trong cả hai trường hợp, người cuối cùng hoặc đội cuối cùng còn lại sẽ thắng trận đấu.

Tên game PUBG moblie bằng tiếng Trung: 和平精英 /Hépíng jīngyīng/ Hòa Bình Tinh Anh

Hoặc mọi người có thể gọi bằng tên 吃鸡 là mọi người đã có thể hiểu được đây là trò gì rồi đó!

Tên các loại súng trong game PUBG moblie bằng tiếng Trung

Công thức chung khi nói tên súng là: CHỦNG LOẠI SÚNG + 枪(qiāng)

Súng lục 手枪 shǒuqiāng

Súng bắn tỉa 狙击枪 jūjī qiāng

Súng trường 步枪 bùqiāng

Súng tiểu liên 冲锋枪 chōngfēngqiāng

Shotgun 散弹枪 sàn dàn qiāng

Súng máy hạng nhẹ 轻机枪 qīng jīqiāng

Súng thính 信号枪 Xìnhào qiāng

Súng AK AK枪 AK qiāng

Súng Kar98K Kar98枪

Tên các vật dụng bảo hộ trong game PUBG moblie bằng tiếng Trung

Giáp 防弹衣/ 级甲 fángdàn yī/ jí jiǎ

Mũ 头盔/ 级头 tóukuī/ jí tóu

Balo 背包/ 级包 bèibāo/ jí bāo

Đồ ngụy trang 吉利服 jílì fú

Chảo 四级甲 sì jí jiǎ

Cách đọc loại giáp, mũ, balo: số đếm + tên trang bị (Ví dụ: mũ 3 — 三级头 — Sān jí tóu)

Tên các phụ kiện vũ khí trong game PUBG moblie bằng tiếng Trung

Nòng giảm tia lửa 消焰器 xiāo yàn qì

Nòng giảm giật 补偿器 bǔcháng qì

Nòng giảm thanh 消音器 xiāoyīn qì

Băng đạn mở rộng 扩容弹匣夹 kuòróng dàn xiá jiā

Băng đạn thay nhanh 快速弹匣 kuàisù dàn xiá

Băng đạn mở rộng thay nhanh 快速擴容弹匣 kuàisù kuòróng dàn xiá

Đạn 弹 dàn

Ống ngắm 倍镜 bèi jìng

Red-dot 红点 hóng diǎn

Cách đọc loại đạn: số đếm + 号弹 (Ví dụ: Đạn 5: 五号弹- Wǔ hào dàn)

Cách đọc Scope: số đếm + 倍镜 (Ví dụ: Scope 4: 四倍镜 — Sì bèi jìng)

Tên các loại đồ tăng máu, nước trong game PUBG moblie bằng tiếng Trung

Bandage 绷带 bēngdài

First Aid Kit 急救脑 jíjiù nǎo

Med Kit 医疗包 yīliáo bāo

Ống tiêm 注射器 zhùshèqì

Thuốc giảm đau 止痛药 (药) zhǐtòng yào (yào)

Nước tăng lực 红牛 (可乐) hóngniú (kělè)

Tên các loại bom, đạn trong game PUBG moblie bằng tiếng Trung

Lựu đạn 手雷 shǒuléi

Bom cháy 燃烧弹 ránshāo dàn

Bom khói 烟雲弹 yānyún dàn

Bom choáng 震爆弹 zhèn bào dàn

Một số thuật ngữ khác trong game PUBG moblie bằng tiếng Trung

Thính 空投 kōngtóu

Nhà thi đấu 体育馆 tǐyùguǎn

Chung cư 公寓 gōngyù

Casino 赌场 dǔchǎng

Nhà khu 6 6区房屋 6 qū fángwū

Nhà A, B, C, L,… thì cứ theo công thức TÊN NHÀ + 房

Ví dụ Nhà L: L房 — L fáng

Mẫu hội thoại thường gặp khi chơi PUBG 1. Khi mới bắt đầu chơi

A: 我伐天就带你吃鸡。

A: Wǒ jīntiān jiù dài nǐ chī jī.

Hôm nay anh sẽ đưa em đi “ăn gà”.

B: 好呀好呀,不过我是新手,打得不怎么样。你千万别打我哦。

B: Hǎo ya hǎo ya, bùguò wǒ shì xīnshǒu, dǎ dé bù zě me yàng. Nǐ qiān wàn bié dǎ wǒ ó.

Tuyệt quá, nhưng mà em là “tay mơ”, chơi cũng chẳng ra sao, anh đừng đánh em nha.

A: 没事 没事。很简单的。这场我伔条L房,你点击跟随我就行。

A: Méishì méishì. Hěn jiǎndān de. Zhè chǎng wǒmen tiáo L fáng, nǐ diǎnjī gēnsuí wǒ jiùxíng.

Không sao. Đơn giản lắm. Trận này chúng ta nhảy nhà L, em nhấn đi theo anh là được.

B: 我已经跟随你了。

B: Wǒ yǐjīng gēnsuí nǐle.

Em đã nhấn theo anh rồi.

A: 一会儿你下来就尽快找装备:抢啊,头盔还有防弹衣。

A: Yīhuǐ’er nǐ xiàlái jiù jǐnkuài zhǎo zhuāngbèi: Qiǎng a, tóukuī hái yǒu fángdàn yī.

B: 好的。这个我知道了。

B: Hǎo de. Zhège wǒ zhīdàole.

Được ạ, cái này em biết rồi.

2. Trong quá trình chơi

A: 我那边有三倍镜,你要不要?

A: Wǒ nà biān yǒusān bèi jìng, nǐ yào bùyào?

Bên anh có ống ngắm x3, e có cần không?

B: 要要要。你在哪里,我去找你。

B: Yào yào yào. Nǐ zài nǎlǐ, wǒ qù zhǎo nǐ.

Cần cần cần. Anh ở đâu, em đi tìm anh.

A: 你点击地图就可众看到我。

A: Nǐ diǎnjī dìtú jiù kěyǐ kàn dào wǒ.

Em nhấn vào bản đồ thì sẽ thấy anh.

B: 哦哦,我看到你了,马上过来。

B: Ó ó, wǒ kàn dào nǐle, mǎshàng guòlái.

Ồ ok, em thấy anh rồi, qua ngay đây.

A: 你小心点儿。我这边有伔。

A: Nǐ xiǎoxīn diǎn er. Wǒ zhè biān yǒurén.

Em cẩn thận chút, bên anh có người đó.

B: 好,啊 救救我。我被打了。

B: Hǎo… a jiù jiù wǒ. Wǒ bèi dǎle.

Vâng… ôi cứu em với, em bị bắn rồi.

A: 你等着我给你报众。

A: Nǐ děngzhe wǒ gěi nǐ bàochóu.

Em đợi đó anh báo thù cho em.

B: 哇塞。你好厉害哦,好刺激啊这个游戏!

B: Wasāi. Nǐ hǎo lìhài ó, hǎo cìjī a zhège yóuxì!

Ôi, anh chơi giỏi thật đấy, game này kích thích thật!

Từ Vựng Tiếng Anh Về Âm Nhạc

AnhhAi trong số các bạn thích nghe nhạc? Bài viết này sẽ cung cấp một số từ vựng tiếng Anh bạn có thể dùng để nói về âm nhạc.

Nói về âm nhạc thì có rất nhiều thứ để nói. Bạn có thể nói về thể loại nhạc mà bạn thích, nhạc cụ mà bạn chơi hoặc nói về tâm trạng của bạn khi nghe nhạc.

Để nói về thể loại nhạc mà bạn thích, hãy dùng những cụm từ sau đây:

Các thể loại nhạc khác nhau gồm có: jazz, blues, pop, rock, heavy metal, hip-hop, classical music, electronic dance music (EDM), và R&B (rhythm and blues).

Để nói về nhạc cụ mà mình chơi được, hãy dùng những cụm từ này:

I can’t play any musical instrument. (Mình chẳng biết chơi loại nhạc cụ nào.)

Đây là tên gọi một số loại nhạc cụ phổ biến: piano, guitar, saxophone (kèn saxophone), violin (đàn vi-ô-lông), flute (sáo), drums (trống), trumpet (kèn trumpet), ukulele (đàn ukulele), cello (đàn cello), clarinet, harp, và harmonica.

Cuối cùng, để nói về tâm trạng khi nghe nhạc, bạn có thể dùng những cụm từ này:

great – Khi bạn thích nhạc đó. awful – Khi bạn không thích nhạc đó.

beat – Khi bạn thích phách nhịp trong bản nhạc. melody – Khi bạn thích nghe giai điệu bài hát. lyrics – Khi bạn thích lời bài hát.

good – Khi âm nhạc khiến tâm trạng bạn vui. bad – Khi âm nhạc khiến bạn thấy chán. relaxed – Khi âm nhạc làm tan biến nỗi buồn phiền trong bạn. energetic – Khi âm nhạc tiếp thêm năng lượng và làm bạn phấn chấn.

1. What music do you listen to? (Bạn nghe thể loại nhạc gì?) 2. Do you play any musical instrument? (Bạn có chơi loại nhạc cụ nào không?) 3. What do you like about your favorite type of music? (Bạn thích ở ở thể loại nhạc yêu thích của mình?) 4. What don’t you like about your favorite type of music? (Bạn không thích loại nhạc yêu thích của mình ở điểm gì?)

Bài 9. Tổng Kết Về Từ Vựng (Từ Đơn, Từ Phức,… Từ Nhiều Nghĩa; Từ Đồng Âm,… Trường Từ Vựng)

TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN LẬP THẠCHMÔN: NGỮ VĂN 9Giáo viên: Trần Kim TuyếnTỔNG KẾT VỀ TỪ VỰNG(Từ đơn, từ phức,… Từ nhiều nghĩa)TIẾT 42TỪ ĐƠNTỪ PHỨCTỪ GHÉPTỪ LÁYTừ ghép chính phụTừ ghép đẳng lậpTừ láy bộ phậnTừ láy toàn bộláy âmláy vầnTỪBài I.2/122: Trong những từ sau, từ nào là từ ghép, từ nào là từ láy?

ngặt nghèonho nhỏgiam giữgật gùbó buộctươi tốtlạnh lùngbọt bèoxa xôicỏ câyđưa đónnhường nhịnrơi rụngmong muốnlấp lánh* Từ ghép:* Từ láy:Bài I.3/123: Trong các từ láy sau đây, từ láy nào có sự “giảm nghĩa” và từ láy nào có sự “tăng nghĩa” so với nghĩa của yếu tố gốc? trăng trắng, sạch sành sanh, đèm đẹp, sát sàn sạt, nho nhỏ, lành lạnh, nhấp nhô, xôm xốp. – Từ láy có sự giảm nghĩa: trắng trắng, đèm đẹp, nho nhỏ, lành lạnh, xôm xốp. – Từ láy có sự tăng nghĩa: nhấp nhô, sát sàn sạt, sạch sành sanh.

Giọt sương long lanh đọng trên chiếc lá.Thuyền dập dềnh, lắc lư theo sóng.Các cô gái thướt tha trong bộ áo dài. Dựa vào các hình ảnh đã cho, hãy đặt câu có sử dụng láy

Là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh.

 Nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen của các từ tạo nên nó nhưng thông thường qua một số phép chuyển nghĩa như: ẩn dụ, hoán dụ, so sánh…..THÀNH NGỮBài II.2/123: Trong những tổ hợp từ sau đây, tổ hợp từ nào là thành ngữ, tổ hợp từ nào là tục ngữ? a. gần mực thì đen, gần đèn thì sáng b. đánh trống bỏ dùi c. chó treo mèo đậy d. được voi đòi tiên e. nước mắt cá sấua. gần mực thì đen, gần đèn thì sáng  Hoàn cảnh, môi trường xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến tính cách, đạo đức con người. b. đánh trống bỏ dùi Làm việc không đến nơi đến chốn,bỏ dở, thiếu trách nhiệm.c. chó treo mèo đậy  Muốn giữ gìn thức ăn với chó thì phải treo lên với mèo thì phải đậy lại.e. nước mắt cá sấu  Sự thông cảm, thương xót giả dối nhằm đánh lừa người khác. Tục ngữThành ngữTục ngữThành ngữd. được voi đòi tiênThành ngữ  Tham lam, được cái này lại muốn cái khácThân em vừa trắng lại vừa tròn.Bảy nổi ba chìm vơí nước non.” (Hồ Xuân Hương) ” Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca” (Nguyễn Du)Một hai nghiêng nước nghiêng thành,Sắc đành đòi một tài đành họa hai. (Nguyễn Du)Bài II.4: Tìm dẫn chứng về việc sử dụng thành ngữ trong văn chương.“Một đời được mấy anh hùngBõ chi cá chậu chim lồng mà chơi” (Nguyễn Du)” Xiết bao ăn tuyết nằm sươngMàn trời chiếu đất dặm trường lao đao” (Nguyễn Đình Chiểu)

a. Nghĩa của từ mẹ là ” người phụ nữ, có con, nói trong quan hệ với con”

b. Nghĩa của từ mẹ khác với nghĩa của từ bố ở phần nghĩa ” người phụ nữ, có con”

c. Nghĩa của từ mẹ không thay đổi trong hai câu: “Mẹ em rất hiền” và “Thất bại là mẹ của thành công”

d. Nghĩa của từ mẹ không có phần nào chung với nghĩa của từ bà Bài tập III.3: Cách giải thích nào trong hai cách giải thích sau là đúng? Vì sao? Độ lượng là: a. đức tính rộng lượng, dễ thông cảm với người có sai lầm và dễ tha thứ. b. rộng lượng, dễ thông cảm với người có sai lầm và dễ tha thứ. Cách giải thích (b) là đúng. Cách giải thích (a) vi phạm một nguyên tắc quan trọng phải tuân thủ khi giải thích nghĩa của từ, vì đã dùng một cụm từ có nghĩa thực thể ( đức tính rộng lượng, dễ thông cảm với người có sai lầm và dễ tha thứ – cụm danh từ ) để giải thích cho một từ chỉ đặc điểm, tính chất ( độ lượng – tính từ)Bài IV.1: Trong hai câu thơ sau, từ hoa trong lệ hoa, thềm hoa được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Có thể coi đây là hiện tượng chuyển nghĩa làm xuất hiện từ nhiều nghĩa được không? Vì sao? Nỗi mình thêm tức nỗi nhà Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng ( Nguyễn Du, Truyện Kiều)  Từ hoa trong thềm hoa, lệ hoa được dùng theo nghĩa chuyển. Tuy nhiên không thể coi đây là hiện tượng chuyển nghĩa làm xuất hiện từ nhiều nghĩa, vì nghĩa chuyển này của từ hoa chỉ là nghĩa chuyển lâm thời, nó chưa làm thay đổi nghĩa của từ, chưa thể đưa vào từ điển.Cảm ơn quý thầy cô và các em học sinh!

12+ Từ Vựng Tiếng Anh Và Ý Nghĩa Các Loài Hoa

Bạn có thể liệt kê danh sách từ này vào sổ tay, vở hoặc điện thoại, máy tính bảng,… tùy ý, miễn sao cho sắp xếp khoa học, dễ nhìn và dễ tìm.

Xuất xứ của loài hoa đó: bạn sẽ học được thêm từ vựng về vị trí địa lý

Ý nghĩa của loài hoa đó: bạn sẽ học được thêm từ vựng đa dạng, trong đó có rất nhiều tính từ hay hay thậm chí học được cả về những sự tích nhỏ thú vị

3. Bước 3: Dùng hình ảnh, âm thanh và các công cụ trợ giúp

Đừng chỉ học, nhẩm trong đầu rồi chép đi chép lại, đó là cách học từ những thập kỷ trước. Hãy sử dụng mọi công cụ trong tay để bạn có thể kích thích trí nhớ tiếp thu từ vựng một cách ấn tượng hơn. Có như vậy, từ vựng mới “chịu” ở lâu trong đầu bạn.

Điều chúng ta yêu thích ở hoa chính là vẻ đẹp của chúng. Vậy nên tất nhiên, khi học từ vựng về hoa, bạn nhất định phải liên tưởng đến những hình ảnh đẹp đó. Ấn tượng của bạn về vẻ đẹp của loài hoa càng mạnh, bạn sẽ càng ghi nhớ chúng hơn.

Bạn có thể đơn giản là tự tưởng tượng hình ảnh trong đầu hoặc tìm kiếm các ảnh đẹp trên mạng để lưu lại. Có thể học bằng cách lưu ảnh các loài hoa trong điện thoại, sau đó khi ôn lại hãy giở ảnh hoa ra và đoán từ.

Có lẽ bạn cũng biết rằng, hiện nay có rất nhiều app hỗ trợ việc học tiếng Anh rất hữu dụng. Không chỉ đơn thuần là đưa cho bạn từ mới, cho một thời gian học, kiểm tra xem bạn nhớ chưa bằng cách cho bài tập điền vào chỗ trống như cũ. Giờ đây, một phần mềm thực sự hiệu quả còn có thể làm nhiều hơn thế. Ví dụ như để học từ vựng, eJOY eXtension có các tính năng siêu hay sau:

– Lưu từ vào sổ từ, theo dõi với mỗi từ vựng xem bạn đã học được đến đâu, được bao nhiêu phần trăm, tiến độ ở mức nào (bạn có thể tự đặt mục tiêu)

– Học từ bằng chơi trò chơi. Những game của eJOY có hình ảnh sống động, bắt mắt, và thú vị hơn nhiều so với trò chơi điền từ vào chỗ trống kinh điển.

– Nhắc bạn học lại từ khi bạn sắp quên chúng: eJOY sử dụng thuật toán của phương pháp ghi nhớ lặp lại ngắt quãng để nhắc khi bạn sắp quên một từ và giúp bạn ôn lại theo một cách khoa học nhất

(Lưu ý rằng đây chỉ là gợi ý của eJOY, bạn hoàn toàn có thể chọn cho mình một cách chia khác sao cho cảm thấy mình sẽ thích và học nhanh nhất.)

1. Các loài hoa bạn đã biết

Tất nhiên, đã biết ở đây là biết trong tiếng Việt.

Bây giờ, bạn hãy thử liệt kê nhanh ra 30 loài hoa mà mình biết. Nếu bạn có thể thực hiện được, thì chúc mừng bạn đã thuộc top những người “yêu hoa” và hiểu biết nhiều về thế giới các loài hoa. Sự thật là đa phần chúng ta không biết quá nhiều loài hoa mà chỉ biết đến các loài quen thuộc, thường xuyên gặp hoặc nghe tên.

Bạn có thể học qua cả những câu danh ngôn truyền cảm hứng, ví dụ như:

Đây chắc chắn là công đoạn khiến chúng ta thích thú nhất, khi có thể tìm hiểu các loài hoa mới lạ hay những loài hoa đã từng nhìn thấy nhưng không biết tên.

Tiếng AnhHình ảnhVí dụ

Cornflower – hoa thanh cúc (tạm dịch)

3. Ý nghĩa của các loài hoa 4. Xuất xứ của các loài hoa

Nếu yêu thích một loài hoa, bạn sẽ không chỉ muốn biết ý nghĩa mà sẽ còn tò mò về xuất xứ của chúng, hay muốn tìm hiểu tại Việt Nam có loài hoa này không. Qua đó, bạn sẽ học được nhiều từ về vị trí địa lý thế giới.

– Peony is native in Asia, Southern Europe and Western North America. (Hoa mẫu đơn mọc tự nhiên tại châu Á, Nam châu Âu và Tây Bắc châu Mỹ)

– Any plant of the genus Camellia, shrubs and small trees native to Asia (Bất kỳ cây thuộc giống Camellia dạng bụi và cây nhỏ đều có nguồn gốc từ châu Á) – Colombia is the largest carnation producer in the world. (Colombia là nơi sản xuất nhiều hoa cẩm chướng nhất thế giới)

What is your most favorite flower?

Which flower means always being optimistic, faces the sun?

Do you know which flowers represent love?

Where in the world we would find the most beautiful cherry blossom?

Can dandelion be grown in Vietnam?

3. Viết đoạn văn ngắn miêu tả loài hoa yêu thích của bạn

Cập nhật thông tin chi tiết về Vấn Đề Chuẩn Hoá Từ Vựng Tiếng Việt (Phần 4) trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!