Xu Hướng 2/2023 # Ý Nghĩa Của Tên Các Tháng Trong Năm # Top 5 View | Eduviet.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Ý Nghĩa Của Tên Các Tháng Trong Năm # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Ý Nghĩa Của Tên Các Tháng Trong Năm được cập nhật mới nhất trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

THIÊN VĂN VIỆT NAM – VACA Vietnam Astronomy and Cosmology Association

Chi tiết Đặng Vũ Tuấn Sơn Chủ đề khác

Trong các ngôn ngữ châu Âu, tên gọi của các tháng là tương đương với nhau, chỉ khác nhau đôi chút do biến thể qua các môi trường văn hóa và đặc điểm cấu tạo ngôn ngữ. Để cho thông dụng, ở những dòng giải trình phía dưới tôi chỉ giải thích nghĩa từ tên trong tiếng Anh để độc giả tiện đối chiếu và tham khảo.

Tháng một: January lấy theo từ Janus – tên vị thần có hai mặt trong thần thoại La Mã, thần của những cánh cửa, sự mở đầu của mọi thứ. Cái tên này được đặt ra để xác nhận tháng 1 là tháng đầu tiên trong năm khi nó được ra đời vào thời của Julius Caesar. Trước đó lịch La Mã chỉ có 10 tháng, bắt đầu từ tháng 3 vì người ta cho rằng khoảng thời gian tháng 1-2 khi đó không có lợi gì cho việc làm nông nghiệp nên không cần làm lịch.

Tháng hai: February lấy từ Februa tên một lễ hội của người La Mã được tổ chức vào đầu năm, có ý nghĩa là sự thanh tẩy, rửa sạch mọi thứ khi bắt đầu mùa xuân. Tháng này cũng ra đời vào thời Julius Caesar.

Tháng ba: March lấy theo tên thần chiến tranh của La Mã là Mars, tương ứng với trong thần thoại Hy Lạp là Ares. Co tới trước thời Julius Caesar thì một năm chỉ có 10 tháng và tháng ba là tháng mở đầu của một năm, nó được đặt cái tên này ngụ ý rằng mỗi năm mới sẽ khởi đầu cho một cuộc chiến mới.

Thần chiến tranh Mars/Ares

Tháng tư: April lấy từ gốc ban đầu là Aphrodite, nữ thần tình yêu và sắc đẹp trong thần thoại Hy Lạp, tương đương với Venus trong thần thoại La Mã.

Tháng năm: May lấy theo tên gốc là Maia, nữ thần mùa xuân, con gái của Faunus và vợ của Vulcan.

Tháng sáu: June lấy theo tên gốc là Juno – đứng đầu các nữ thần trong thần thoại La Mã, vừa là vợ vừa là chị gái của Jupiter; tương ứng với thần thoại Hy Lạp là nữ thần Hera (vợ/chị gái của Zeus)

Tháng bảy: July lấy theo tên của hoàng đến Julius Caesar; chính ông này tự đặt tên tháng theo mình chứ không phải người khác đặt để tưởng nhớ, trước đó tháng này chỉ có tên là Qintilis tức là tháng thứ năm (vì không có tháng một và hai)

Julius Caesar

Các Tháng Trong Năm, Các Ngày Trong Tuần: Nguồn Gốc Tên Gọi &Amp; Những Ý Nghĩa

Từ thời cổ đại, con người quan sát sự chuyển dời của thời gian bằng cách ghi nhận sự xoay vòng của mặt trăng, hay còn gọi là tuần trăng, với một tuần trăng tương đương với 29.530588 ngày (tức là 29 ngày 12 giờ 44 phút và 3 giây). Do vậy nếu dò theo ngữ nguyên thì chữ moon và month đều xuất phát từ cùng một gốc ngữ hệ Ấn-Âu menes (từ này chỉ cả hai nghĩa moon và month). Trong một năm có mười hai tháng, với tên tiếng Anh lần lượt là January, February, March, April, May, June, July, August, September, October, November, và December. Nếu để ý thấy thì chữ September có tiếp đầu ngữ sept- mang nghĩa là thứ bảy, tức đây là tháng thứ bảy, trong khi September hiện nay được mang nghĩa là tháng chín. Nguyên do là từ thời La-mã cổ đại, ban đầu người ta làm lịch chỉ có mười tháng, từ March đến December, không có January và February. Tên gọi mười tháng đó vào thời La-mã cổ đại là: Martius, Aprilis, Maius, Juniius, Quintilis, Sextilis, September, October, November, và December; với sáu tháng cuối là các từ Latin để chỉ các con số từ 5 đến 10. Sau đó Numa Pompilius đã thêm vào hai tháng January vào đầu năm và February vào cuối năm, tới năm 452 trước Công nguyên thì February được di chuyển nằm giữa January và March.

January: Bắt nguồn từ tiếng Latin Ianuaris, từ này bắt nguồn từ chữ ianua (nghĩa là “door”), và có liên hệ với vị thần hai đầu Janus, một vị thần bảo hộ chuyên đứng giữ cửa. Theo nhiều học giả thì Janus là vị thần của sự khởi thuỷ, là vị thần đầu tiên trong số các vị thần xuất hiện ở các nghi thức tế lễ. Do vậy mà mọi sự bắt đầu của ngày, tháng, và năm đều được liên hệ với ông ta. Tháng đầu tiên trong năm, January, theo đó mà được đặt theo tên ông ta, với ngụ ý rằng đó là thời điểm mà ông ta với hai cái đầu có thể nhìn về năm cũ cũng như hướng đến năm mới.

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp janvier, Tây-ban-nha enero, Bồ-đào-nha Janeiro, Ý gennaio, Đức Januar (ở Đức và Thuỵ-sĩ) hoặc Janner (ở Áo), Wales Ionawr, tiếng Scots Gaelic an Faoilteach, Ireland Eanáir.

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp mars, Tây-ban-nha marzo, Bồ-đào-nha Março, Ý marzo, Đức März, Wales Mawrth, tiếng Scots Gaelic am Màrt, Ireland Márta.

April: Chữ Latin là Aprilis, và người ta cho rằng nó xuất phát từ chữ Apru, là tiếng Etruscan (một chủng người cổ đại sống tại vùng đất là nước Ý ngày nay), đuợc mượn từ Aphro, dạng viết tắt của Aphrodite, nữ thần Hi-lạp. Do vậy, theo dân La-mã, thì Aprilisđuợc xem như là “tháng của nữ thần Venus” Ngoài ra nó còn có một ngữ nguyên khác liên hệ với chữ aperir (nghĩa là “to open”) theo như việc các nụ và bông hoa nở ra vào thời điểm này trong năm tại thành Rome.

May: Từ chữ Latin Maius, đặt theo tên Maia, nữ thần sinh trưởng của La-mã, vợ của thần lửa Vulcan (tên Maia này có thể cùng một nguồn với chữ Latin magnus, nghĩa là “large”).

June: tên Latin Iunius của tháng này được bắt nguồn từ tên vị nữ thần Juno của La-mã. Tên của tháng này theo tiếng Scots Gaelic có nghĩa là “tháng non trẻ” (the young month), nhưng một cái tên khác được ghi nhận là Meadhan-Samhraidh “midsummer” (giữa hè); tên tháng này trong tiếng xứ Wales cũng mang nghĩa tương tự, và tên tháng trong tiếng Ireland thì có nghĩa là “ở giữa” (middle)

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp juillet, Tây-ban-nha julio, Bồ-đào-nha Julho, Ý luglio, Đức Juni, Wales Gorffennaf, Scots Gaelic an t-Iucbar, Ireland Iúil.

October: Tên Latin của tháng này October chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ tám trong năm (xuất phát từ chữ octo, “số tám”). Tên tháng trong tiếng Wales, ban đầu là hyddfref, nghĩa là tiếng bò rống; trong tiếng Scots Gaelic thì nghĩa là “thời kì động đực” (rutting time), bắt nguồn từ chữ damh, nghĩa là “con bò”; trong tiếng Ireland thì có nghĩa là “cuối thu” (end of autumn).

November: Tên Latin của tháng này November chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ chín trong năm (xuất phát từ chữ novem, “số chín”). Trong tiếng Wales thì tên tháng này mang nghĩa là “sát sinh” (slaughter); tương tự vậy, người Hà-lan dùng nghĩa đó để gọi tháng này slachtmaand, bởi vì người ta giết thú vật trong tháng này, và trong Old English còn bảo lưu một từ biến thể của người ngoại đạo blomonap, nghĩa là “tháng hiến tế” (sacrifice month). Một từ khác trong tiếng Wales là y mis du, “tháng tối tăm” (black month), từ này được ghi nhận trong tiếng Scots Gaelic (am mìos dubh).

Ngày đầu tiên của tháng này là một sự kết thúc cho vụ mùa, là cái ngày mà các bầy thú trở về từ các đồng cỏ và sự chiếm hữu đất đai được gia hạn. Nó cũng là thời điểm mà người ta tin rằng linh hồn của những người đã khuất sẽ trở về thăm viếng gia đình. Người ta đốt lửa mừng trên đỉnh đồi để thắp lên lại ngọn lửa ấm áp gia đình cho mùa đông và để xua đuổi những linh hồn xấu xa, và thỉnh thoảng họ mang mặt nạ và hoá trang để những hồn ma không thể nhận ra họ. Đó chính là lễ hội Samhain của người Celts, và cũng là nguồn gốc của lễ Halloween hiện nay, vốn được tổ chức vào đêm 31/10. [1]

Năm là đơn vị chỉ thời gian, và hơn nữa nó còn mang tính biểu tượng. Năm là một kiểu hình cho mọi quá trình có chu kì (như một đời người, sự trỗi dậy và suy tàn của nền văn hoá, chu kì vũ trụ). Biểu tượng hình tròn của năm thường được nằm gói gọn trong một hình vuông với bốn góc là bốn nhân vật tượng trưng cho bốn mùa trong năm. Tấm thảm thêu về Sự sáng tạo trong nhà thờ Gerona là một ví dụ hoàn hảo cho hình ảnh đó. Trong truyền thống Trung-hoa thì vòng tròn biểu tượng của năm được chia thành hai phần bằng nhau, tương ứng với bóng tối/cái chết và ánh sáng/sự sống. Từ thời xa xưa thì người ta tin rằng mỗi người đều phải trải qua một quá trình tái sinh hàng năm, từ tháng Mười hai cho đến tháng Sáu, biểu tượng cho cái chết và sự phục sinh. [2]

Bảng 1 – Tên các ngày trong tuần (hình lấy từ cuốn The History of Time: A Very Short Introduction)

Một tuần bảy ngày là đơn vị thời gian được người ta tạo ra không căn cứ trên khía cạnh thiên văn. Nguồn gốc của đơn vị tuần lễ này được liên hệ với người Do-thái cổ đại và ghi chép kinh thánh về Sự sáng tạo, theo đó thì Chúa làm việc trong sáu ngày và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Tuần lễ của người Do-thái xoay quanh ngày Sabbath, là ngày thần thánh và là ngày nghỉ của người Do-thái, bắt đầu từ buổi hoàng hôn Thứ sáu cho đến buổi đêm về vào ngày kế tiếp (tức là ngày Thứ bảy). Tuy nhiên giới nghiên cứu đã chứng minh được rằng người Do-thái có lẽ đã mượn ý tưởng về tuần lễ này từ những người ở vùng Lưỡng-hà, vì người Sumer và người Babylon chia một năm thành những tuần bảy ngày. Và từ người Babylon đến người Ai-cập, rồi người La-mã đặt tên mỗi ngày trong tuần theo tên của những hành tinh theo một chuỗi bảy hành tinh quan sát được bằng mắt thường: Mặt trăng (Moon), sao Thuỷ (Mercury), sao Kim (Venus), Mặt trời (Sun), sao Hoả (Mars), sao Mộc (Jupiter), và sao Thổ (Saturn).

Trong các ngôn ngữ trên, thì tên các ngày trong tuần theo tiếng của xứ Wales khá giống tiếng Latin hơn cả, vì tiếng Wales là ngôn ngữ còn sót lại của thời Roman Britain (nước Anh của La-mã), do vậy còn giữ được tên của các hành tinh sát với gốc Latin còn hơn cả những ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Romance (ngữ hệ bắt nguồn từ Latin) như Pháp, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, v.v.

Theo tiếng Latin thì ngày đầu tiên được đặt theo tên ngày Mặt trời (Sun) (dies Solis), ngày thứ nhì là cho ngày Mặt trăng (Moon) (dis Lunae), ngày thứ ba là ngày sao Hoả (Mars) (dies Martis), ngày thứ tư là ngày sao Thuỷ (Mercury) (Mercurii), ngày thứ năm là ngày sao Mộc (Jupiter) (dies Iovis), ngày thứ sáu là ngày sao Kim (Venus) (dies Veneris), và ngày thứ bảy là ngày sao Thổ (Saturn) (dies Saturni). Tên các hành tinh ở thời La-mã là bản phiên dịch từ tiếng Hi-lạp, và Hi-lạp là từ tiếng Babylon, Babylon thì từ Sumer:

Bảng 2 – Tên các hành tinh [4](Nguồn: http://www.friesian.com/week.htm)

Có một điều thú vị trong tên các ngày bằng tiếng Latin là bảy hành tinh được xếp theo chuỗi tăng dần bắt đầu từ ngày Monday và tăng tiến lên theo từng khoảng hai ngày trong vòng hai tuần: Monday (Moon), Wednesday (Mercury), Friday (Venus), Sunday (Sun), Tuesday (Mars), Thursday (Jupiter), Saturday (Saturn). Để hiểu nguyên do vì sao thì ta quay ngược thời gian trở về Ai-cập thời Plotemy, lúc này các nhà chiêm tinh định ra rằng mỗi giờ sẽ ứng với một hành tinh theo thứ tự giảm dần về mặt khoảng cách đối với Trái đất, lần lượt là Saturn, Jupiter, Mars, Sun, Venus, Mercury, Moon, và mỗi ngày thì ứng với hành tinh đại diện cho giờ đầu tiên của ngày đó; bởi vì một ngày bao gồm 3×7+3 giờ, bắt đầu là Saturn, nên ngày đầu tuần vào thời đó được tính là ngày Saturday, do đó sang ngày hôm sau thì giờ đầu tiên rơi vào Sun, thành Sunday, ngày hôm sau nữa rơi vào Moon, thành Monday, v.v..

Mặc dù sau này, Kitô giáo lấy khái niệm tuần lễ của người Do-thái và đổi ngày Sunday lại thành “ngày của Chúa” (Lord’s day – dies Dominicus), nhưng vị hoàng đế đầu tiên của đế chế La-mã Công giáo, Constantine, vào năm 321 đã ban sắc lệnh rằng vào ngày Sunday thì không kiện tụng gì cả, ông ta không gọi ngày đó là “ngày của Chúa” mà gọi là “ngày mà mặt trời được tôn thờ” ( diem solis ueneratione sui celebrem).

Trong số các ngôn ngữ của Tây Âu, thì ngoại trừ tiếng Bồ-đào-nha tiếp thu hoàn toàn cách đặt tên của Kitô giáo. Còn lại các ngôn ngữ khác thuộc ngữ hệ Romance chỉ giữ lại cách đặt tên của “ngày của Chúa” (Pháp, dimanche / Tây-ban-nha, domingo / Ý, domenica) và ngày “Sabbath” (samedi / sábado / sabato), những ngày còn lại trong tuần vẫn giữ cách đặt tên theo các hành tinh.

Trong các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Germanic (tiếng Đức cổ), thì có một số thay đổi so với tiếng Latin. Như tiếng Anh, các ngày Sunday, Monday, Saturday vẫn được đặt theo tên các hành tinh, còn những ngày khác thì đặt theo tên các vị thần của dân tộc Germanic cổ:

Tuesday được đặt tên theo thần Týr (Old English viết là Tiw hay Tiu), vị thần chiến tranh và bầu trời (tương ứng với thần Mars bên La-mã), ngày này trong tiếng Thuỵ-điển hay Đan-mạch lần lượt là tisdag và tirsdag, còn tiếng Đức là Dienstag.

Wednesday đặt theo tên của thần Woden (còn có một tên thông dụng khác là Odin), tương ứng với thần Mercury bên La-mã, và cách đặt tên này qua bên tiếng Hà-lan là woensdag, tiếng Thuỵ-điển và Đan-mạch onsdag. Tuy nhiên trong tiếng Đức thì có sự thay đổi nữa, là ngày này người Đức gọi là Mittwoch (tức là midweek, giữa tuần)

Thursday đặt tên theo thần Thor, thần sấm sét, cũng từ tên vị thần này mà có từ tiếng Anh thunder.

Friday đặt theo tên thần Frigg, trong thần thoại Scandinavia thì Frigg là vợ của Odin và là nữ thần của hôn nhân và sự sinh sản, tương ứng với thần Venus bên La-mã.

Người Slav (những dân tộc thuộc khu vực trung và đông của châu Âu) thì áp dụng một hệ thống đặt tên khác. Ngày Sunday được họ gọi là nedelja, ngày “không-làm-việc” (not-work). Tuy nhiên từ đó lại có nghĩa là “week” trong tiếng Nga, và người Nga thì gọi ngày Sunday là voskresene, “sự phục sinh” (một dạng từ khác của từ Voskresenie, nghĩa là “ngày Phục sinh” (Easter)), ngày Monday được gọi là ponedel’nik, nghĩa là “ngày sau nedelja “. Ngày Saturday trở thành “Sabbath”, ngày Wednesday mang nghĩa là “giữa tuần”, còn những ngày Tuesday, Thursday, và Friday thì mang tên bắt nguồn lần lượt từ nghĩa “hai”, “bốn”, và “năm”, vì họ đếm bắt đầu từ ngày Monday chứ không phải từ ngày Sunday. Người Lithuania và Latvia cũng bắt đầu đếm các ngày trong tuần từ ngày Monday.

Còn trong tiếng Việt, thì các ngày trong tuần từ Monday đến Saturday được gọi lần lượt là Thứ hai, Thứ ba, cho đến Thứ bảy, còn ngày Sunday có hai cách gọi “chúa nhật” hoặc “chủ nhật”, tức “Lord’s day”. Nếu ta so với bảng 1, thì thấy cách gọi này về mặt ý nghĩa giống hệt như cách gọi trong tiếng Latin của nhà thờ Kitô giáo (Church Latin), và trong ngôn ngữ hiện đại ngày nay thì giống với cách gọi của tiếng Bồ-đào-nha: từ feria ở đây theo tiếng Latin ban đầu có nghĩa là “free days” (những ngày rảnh rỗi), nhưng sau đó chuyển thành nghĩa “feast days” (những ngày lễ hội), và rồi vì một lí do nào đó mà từ feria này được dùng để chỉ các ngày trong tuần. Nhắc lại lịch sử thì vào đầu thế kỉ 17, các nhà truyền giáo Bồ-đào-nha sang Việt-nam, và những người này đã có vai trò cực kì quan trọng trong việc hình thành chữ Quốc ngữ hiện nay, do đó việc tên gọi các ngày trong tuần có ý nghĩa trùng khớp với bên tiếng Bồ-đào-nha là điều hoàn toàn hợp lí và có cơ sở về mặt lịch sử.

Chú thích:

(Nguồn: http://www.friesian.com/week.htm)

[1] “Halloween.” Encyclopædia Britannica. Encyclopaedia Britannica Ultimate Reference Suite. Chicago: Encyclopædia Britannica, 2010. [2] Cirlot, J. E. “Year.” A Dictionary of Symbols. 2 nd ed. London: Routledge, 1971. [3] Cirlot, J. E. “Week.” A Dictionary of Symbols. 2 nd ed. London: Routledge, 1971. [4] Coi thêm tên các hành tinh theo nhiều ngôn ngữ khác nhau: Planetary Linguistics, http://nineplanets.org/days.html

Encyclopædia Britannica. Encyclopaedia Britannica Ultimate Reference Suite. Chicago: Encyclopædia Britannica, 2010.

Ayto, John. Word Origins. 2nd edition. London: A & C Black, 2005.

Blackburn, Bonnie & Leofranc Holford-Strevens. The Oxford Companion to the Year. New York: Oxford University Press, 1999.

Cirlot, J. E. A Dictionary of Symbols. 2nd ed. London: Routledge, 1971.

Holford-Strevens, Leofranc. The History of Time: A Very Short Introduction. New York: Oxford University Press, 2005.

Ross, Kelly L. “The Days of the Week.” The Proceedings of Friesian School, the Fourth Series. 2005. <http://www.friesian.com/week.htmp

Nguồn: https://chiecnon.wordpress.com/2011/01/05/cac-thang-trong-nam-cac-ngay-trong-tuan/

Các Tháng Trong Tiếng Anh Có Ý Nghĩa Như Thế Nào?

Cách viết các tháng trong tiếng anh

Ý nghĩa của các tháng trong tiếng anh

January – Tháng 1

January được lấy theo tên của vị thần Janus. Đây là thần đại diện cho sự khởi đầu, do đó người ta lấy tên ông để đặt cho tháng đầu tiên của năm. Thần Janus có 2 khuôn mặt. Một hướng đến tương lai và mặt còn lại nhìn về quá khứ.

February – Tháng 2

Các tài liệu xưa cũng ghi lại, februarius có nguồn gốc xuất phát từ februum, đây là thứ dùng trong nghi lễ vào ngày 15/2 mỗi năm để tẩy uế.

March – Tháng 3

Vào tháng 3, sẽ diễn ra các lễ hội của người La Mã. Họ tổ chức nó để chuẩn bị cho các cuộc chiến và thần chiến tranh – Mars. Do đó, trong tiếng anh, tháng 3 được mang tên là March.

April – Tháng 4

Trong tiếng anh, từ April có nguồn gốc từ tiếng latin là Aprillis và là tháng 4 dương trong lịch của người La Mã.

May – Tháng 5

Trong các tháng trong tiếng Anh thì tháng 5 được lấy từ tên của nữ thần Hy Lạp – Maia. Vị thần này là con của Atlas và Hermes, cô là nữ thần của trái đất và tháng 5 trong tiếng Anh được đặt theo tên của bà.

June – Tháng 6

Nguồn gốc tên tháng 6 được đặt theo vị thần của đế chế La Mã là thần Juno. Bà là nữ thần của sự sinh nở cũng như hôn nhân gia đình.

July – Tháng 7

Tháng 7 trong tiếng Anh được đặt theo tên của một vị lãnh tụ nổi tiếng của Cộng hòa La Mã cổ đại là Julius Caesar.

August – Tháng 8

Ý nghĩa của tháng 8 gắn liền với vị hoàng đế đầu tiên cại trị đế chế La Mã – Augustus. Đây thực chất là danh xưng của ông và mang ý nghĩa về sự tôn kính.

September – Tháng 9

Trong tiếng Latin, Septem có nghĩa là thứ bảy. Và theo lịch La Mã cổ đại, tháng 9 là tháng thứ 7 trong 10 tháng của một năm, do đó nó được đặt tên là September.

October – Tháng 10

Thời La Mã một năm có tổng là 10 tháng. Và từ Octo trong tiếng Latin mang nghĩa “thứ 8”. (Tháng thứ 8 của năm). Tuy nhiên, sau này mọi người thêm vào lịch 2 tháng và tháng 10 được gọi là October.

November – Tháng 11

Trong tiếng Latin, Novem mang ý nghĩa là “thứ 9” và nó được dùng để đặt tên cho tháng 11 sau này.

December – Tháng 12

Tháng 12 là tháng cuối cùng của 1 năm và nó được gọi theo tên tháng thứ 10 của người La Mã ngày xưa.

Quy tắc cần nhớ khi viết ngày tháng trong tiếng anh

Khi sử dụng ngày tháng trong tiếng anh, bạn cần ghi nhớ một số nguyên tắc để viết chuẩn xác nhất. Thông thường, các viết và đọc ngày tháng có sự khác biệt giữa tiếng Anh – Mỹ và tiếng Anh – Anh. Cụ thể như sau:

Tiếng Anh – Anh: Trong tiếng Anh – Anh quy tắc viết các tháng luôn là ngày viết trước tháng và thêm số tự thứ phía sau và bỏ giới từ “of” ở trước tháng.

Chẳng hạn: 26th January 2019 (Ngày 26 tháng 1 năm 2019).

Tiếng Anh – Mỹ: Trong tiếng Anh – Mỹ nguyên tắc viết các tháng trong tiếng Anh là tháng đứng trước ngày đồng thời thêm mạo từ đằng trước. Trước các năm sẽ có dấu “,”.

Chẳng hạn: January 26 th, 2019 (Ngày 26 tháng 1 năm 2019).

Ngoài ra, bạn cần lưu ý một số vấn đề sau:

Trước các thứ luôn dùng giới từ ON

Giới từ ON sử dụng trước ngày

Trước các tháng dùng giới từ IN

Giới từ ON sử dụng trước: thứ, ngày và tháng.

Nguồn Gốc Tên Các Tháng Trong Tiếng Anh Có Ý Nghĩa Gì?

Kinh nghiệm học tiếng Anh

Những câu chuyện thú vị phía sau các từ vựng tiếng Anh có lẽ sẽ làm bạn hứng thú học hơn. Các tháng trong tiếng Anh có gì đặc biệt? Tại sao không gọi các tháng theo số thứ tự như tiếng Việt của chúng ta? Câu chuyện phía sau là gì? Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giúp bạn tìm hiểu về nguồn gốc tên các tháng trong tiếng Anh cùng những ý nghĩa vô cùng sâu sắc.

Nguồn gốc tên các tháng trong tiếng Anh

Người La Mã cổ đại dường như có tên của các vị thần cho mọi thứ trong cuộc sống. Cho nên bạn chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu biết rằng họ có một vị thần gác cửa tên là Janus.

Và hẳn nhiên vị thần này sẽ có hai mặt để có thể cùng lúc canh gác hai mặt của một lối ra vào. Chính vì thế, lễ kỷ niệm của vị thần này được diễn ra vào đầu năm, khi người ta nhìn lại năm cũ và hướng về năm mới.

Do vậy, tên vị thần Janus sẽ gắn với tháng đầu tiên trong năm. Trong tiếng La tinh, tháng Giêng có nghĩa là Januarius mensis (tháng của Janus). Cụm từ này du nhập vào tiếng Anh dưới dạng Geneve vào khoảng trước thế kỷ 14.

Đến khoảng năm 1391, từ tiếng Anh để chỉ tháng Giêng là January. Tình cờ Janus cũng chính là nguồn gốc của từ janitor (với nghĩa ban đầu là người gác cửa).

February du nhập vào tiếng Anh ở thế kỷ 13, xuất phát từ từ tiếng Pháp cổ là février (bản thân từ này có nguồn gốc từ tiếng La tinh là februarius). Từ này được tiếng La tinh vay mượn từ gốc februum của người dân Sabine, một dân tộc cổ của nước Ý.

Người La Mã dùng từ februar để chỉ đến lễ rửa tội tổ chức vào giữa tháng hai hàng năm. Dạng từ tiếng Anh vào đầu thế kỷ 13 là federer, và đến năm 1225 nó đã trở thành feoverel.

Vào khoảng năm 1373, tiếng Anh hiệu chỉnh từ này cho giống với lối chính tả La tinh hơn, và thế là nó biến thành februar. Đi qua bao thời gian, những biến đổi về cách phát âm cũng như chính tả đã đưa đến dạng từ như hiện nay.

Vị thần trong chiến tranh có tên tiếng La tinh là Mars, là gốc gác của từ chỉ tháng Ba trong tiếng Anh (March). Từ này có xuất phát từ dạng tiếng Pháp cổ là marz (bản thân gốc này lấy từ tiếng La tinh Martius mensis, nghĩa là tháng của Mars. Nó được du nhập vào tiếng Anh khoảng đầu thế kỷ 13.

April là tháng của đầu xuân hoa nở, có gốc là động từ aperetrong tiếng La tinh. Tháng Tư trong tiếng La tinh là Aprilis, và đã biến thành Avrill trong tiếng Pháp cổ. Trong thế kỷ 13, từ tiếng Anh là Averil, nhưng đến khoảng năm 1375, tiếng Anh đã vay mượn lại dạng từ và có vẻ La tinh hơn, đó là April.

Ở một số nước, tháng Tư được xem là tháng đầu tiên trong năm, và truyền thống “ngày cá tháng Tư” (April Fools’ Day) được xem một di sản của những lễ hội ăn mừng năm mới.

Tháng Năm (May) là tháng của nữ thần Maia người La Mã. Cái tên Maria có thể có cùng nguồn gốc với từ La tinh magnus, có nghĩa là tăng trưởng hoặc lớn lên. Từ La tinh để chỉ đến tháng Năm là Maius. Từ May du nhập vào tiếng Anh trong thế kỷ 12, từ có nguồn gốc là từ Mai trong tiếng Pháp cổ.

Du nhập vào tiếng Anh lần đầu tiên trong thế kỷ 11 dưới dạng Junius, June được vay mượn từ gốc La tinh Junius, một biến thể của Junonius (từ mà người La Mã dùng để chỉ đến tháng Sáu). Theo tên của Juno, nữ thần đại diện cho những người phụ nữ mạnh mẽ và hôn nhân gia đình.

July đơn giản chỉ là cách đặt theo tên của Gaius Julius Caesar, vị hoàng đế người La Mã sinh ra trong tháng thứ bảy của năm. Tuy được lấy tên mình đặt cho một tháng trong năm, Caesar cũng đã có công lớn trong việc cải cách lịch La Mã.

Ngoài ra, Caesar còn tự vỗ ngực phong mình là một vị thần, và dựng lên nhiều đền thờ cho chính bản thân mình. Một khi đã có điều lệ như thế, nếu như các vị vua khác cũng đều hùa nhau lấy tên mình đặt cho một tháng trong năm, thì chắc hẳn sẽ loạn hết cả lên. Nhưng cũng thật may mắn một năm chỉ có chừng đó tháng thôi.

Nhưng chí ít cũng đã có một người khác bắt chước kiểu như thế. Augustus Caesar, cháu nuôi của Julius, đã lấy tên mình đặt cho tháng thứ tám (August). Cũng như Julius, Augustus tự phong mình là một vị thần, nhưng vẫn còn may là ông chỉ yêu cầu thần dân của các nước chư hầu thờ phượng ông, còn dân La Mã được miễn thờ.

Những ai có thú làm vườn có lẽ cũng nên biết rằng từ trong tiếng Anh cổ dùng để chỉ tháng Tám là Weodmonath – “tháng của cây cỏ dại”. Do Julius và Augustus đã đưa tên riêng của mình vào lịch, những tháng sau đó phải lùi một vài bước.

September (trong từ gốc La tinh septem, nghĩa là bảy) trở thành tháng thứ 9. October (trong từ gốc La tinh là octo, nghĩa là tám) trở thành tháng thứ 10. November (trong từ gốc La tinh novem, nghĩa là chín) trở thành tháng thứ 11. December (trong từ gốc La tinh decem, nghĩa là mười) trở thành tháng thứ 12.

Ý nghĩa tên các tháng trong tiếng Anh

Những ngày tháng tiếng Anh luôn luôn được con người sử dụng hàng ngày. Mọi khi các bạn có bất kỳ cuộc hẹn nào hay công việc gì tất cả chúng ta đều cần đến ngày tháng và lên công tác cụ thể.

Theo thần thoại La Mã cổ đại thì Ja-nuc là vị thần của thời hạn. Tháng một là tháng trên hết của một năm mới, nên nó được mang tên vị thần thời gian. Vị thần này có đến 2 khuôn mặt để nhìn về quá khứ và tương lai.

Có nghĩa là thanh trừ. Trong phong tục của La Mã thì thường các phạm nhân đều bị hành quyết vào tháng hai nên con người lấy luôn ngôn từ này để đặt cho tháng. Ngoài ngôn từ này có hàm ý nhắc loài người hãy sống lương thiện hơn và tránh giảm mọi tội lỗi. Đây là tháng chết chóc nên số ngày của nó chỉ cần 28 ngày thấp hơn so với các tháng khác .

Trong truyền thuyết thần thoại La Mã cổ đại thì maps là vì thần của chiến tranh. Maps cũng sẽ là phụ vương của Ro – myl & Rem . Theo thần thoại cổ xưa đó chính là hai người đã xây dựng nên thành phố Rim cổ đại ( nay là Roma).

Trong một năm chu kỳ khí hậu (năm hồi quy) thì đấy là thời kì mà cỏ cây bông hoa đâm chồi nảy lộc. Theo tiếng La tinh từ này có nghĩa là nảy mầm nên con người đã lấy từ đó đặt tên cho tháng tư. Tên tháng này đã được nêu lên đặc thù của thời điểm theo chu kì thời tiết.

Rất có thể theo thần thoại nước Ý, tháng 5 này đã được đặt theo tên của thần đất. Còn theo thần thoại cổ xưa khác thì rất có thể gọi là thần phồn vinh.

Theo truyền thuyết La mã cổ đại thì tháng này được đặt tên theo tên của nữ thần Juno-ra là vợ của thần Giu-pi-tơ. Trong thần thoại cổ xưa Hy lạp là nữ thần Hera.

Tháng này được đặt theo tên của một vị Hoàng đế La mã Au-gus. Ông có công sửa sai sót trong các công việc ban hành lịch chủ tế lúc bấy giờ. Để kỉ niệm và tưởng nhớ ông mọi người không chỉ đặt tên mà còn có thêm một ngày hồi tháng này (bù cho tháng 2) .

Tháng September được gọi theo nghĩa từ của tiếng La tinh septem – số 7. Trong chính ngôi nhà nước la mã cổ đại thì đây là tháng thứ 7 đầu tiên của một năm lịch.

Các tháng chẵn cuối năm đổi thành tháng đủ nếu mà trong lịch cũ thì đó là tháng 8. Tháng này đại diện cho sự ấm no, sung túc và hạnh phúc.

November and December và trong tiếng La mã là Novem và Decem. Tương ứng với 2 tháng 9 và 10 theo lịch cũ sau tháng 7 trước hết. Trong sách không nói nhiều về tháng này nhưng tôi nghĩ tháng này đại diện thay mặt cho sự mới mẻ, đạt được các sản phẩm trước đó và những người sinh trong thời điểm tháng này là các người mới cũng như tháng vậy.

☎️ Hotline: 028.71099972 – 0937.585.385

📩 Email : huongnt@eduphil.com.vn

Cập nhật thông tin chi tiết về Ý Nghĩa Của Tên Các Tháng Trong Năm trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!