Xu Hướng 2/2024 # Ý Nghĩa Của Tên Các Tháng Trong Năm # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Ý Nghĩa Của Tên Các Tháng Trong Năm được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

THIÊN VĂN VIỆT NAM – VACA Vietnam Astronomy and Cosmology Association

Chi tiết Đặng Vũ Tuấn Sơn Chủ đề khác

Trong các ngôn ngữ châu Âu, tên gọi của các tháng là tương đương với nhau, chỉ khác nhau đôi chút do biến thể qua các môi trường văn hóa và đặc điểm cấu tạo ngôn ngữ. Để cho thông dụng, ở những dòng giải trình phía dưới tôi chỉ giải thích nghĩa từ tên trong tiếng Anh để độc giả tiện đối chiếu và tham khảo.

Tháng một: January lấy theo từ Janus – tên vị thần có hai mặt trong thần thoại La Mã, thần của những cánh cửa, sự mở đầu của mọi thứ. Cái tên này được đặt ra để xác nhận tháng 1 là tháng đầu tiên trong năm khi nó được ra đời vào thời của Julius Caesar. Trước đó lịch La Mã chỉ có 10 tháng, bắt đầu từ tháng 3 vì người ta cho rằng khoảng thời gian tháng 1-2 khi đó không có lợi gì cho việc làm nông nghiệp nên không cần làm lịch.

Tháng hai: February lấy từ Februa tên một lễ hội của người La Mã được tổ chức vào đầu năm, có ý nghĩa là sự thanh tẩy, rửa sạch mọi thứ khi bắt đầu mùa xuân. Tháng này cũng ra đời vào thời Julius Caesar.

Tháng ba: March lấy theo tên thần chiến tranh của La Mã là Mars, tương ứng với trong thần thoại Hy Lạp là Ares. Co tới trước thời Julius Caesar thì một năm chỉ có 10 tháng và tháng ba là tháng mở đầu của một năm, nó được đặt cái tên này ngụ ý rằng mỗi năm mới sẽ khởi đầu cho một cuộc chiến mới.

Thần chiến tranh Mars/Ares

Tháng tư: April lấy từ gốc ban đầu là Aphrodite, nữ thần tình yêu và sắc đẹp trong thần thoại Hy Lạp, tương đương với Venus trong thần thoại La Mã.

Tháng năm: May lấy theo tên gốc là Maia, nữ thần mùa xuân, con gái của Faunus và vợ của Vulcan.

Tháng sáu: June lấy theo tên gốc là Juno – đứng đầu các nữ thần trong thần thoại La Mã, vừa là vợ vừa là chị gái của Jupiter; tương ứng với thần thoại Hy Lạp là nữ thần Hera (vợ/chị gái của Zeus)

Tháng bảy: July lấy theo tên của hoàng đến Julius Caesar; chính ông này tự đặt tên tháng theo mình chứ không phải người khác đặt để tưởng nhớ, trước đó tháng này chỉ có tên là Qintilis tức là tháng thứ năm (vì không có tháng một và hai)

Julius Caesar

Các Tháng Trong Tiếng Anh: Cách Viết Và Ý Nghĩa Của Các Tháng

Bạn hoàn toàn có thể ghi nhớ nghĩa của từ thông qua sự liên tưởng, sáng tạo các tình huống hài hước để ghi nhớ. Kết hợp chêm các từ tiếng Anh trong đoạn văn tiếng Việt cũng là cách để bạn nâng cao hiệu quả việc ghi nhớ từ vựng.

2. Cách viết ngày tháng năm trong tiếng Anh

Dù cho bạn đã học tiếng Anh bao lâu rồi thì đôi khi bạn vẫn thường mắc phải các lỗi vô cùng ngớ ngẩn khi viết ngày tháng như “in May 4” hay “on April”…

Cách viết các tháng trong tiếng Anh

Khi viết các ngày trong tuần chúng ta cần sử dụng giới từ “ON” ở phía trước: On Monday, on Tuesday, on Wednesday, on Thursday, on Friday, on Saturday, on Sunday.

Khi viết các ngày cụ thể trong năm, ta sử dụng giới từ “ON” ở trước: On May 5th, 2024

Cách viết các ngày trong tháng:

Ex: Tuesday, May 3rd, 2024

Ex: Tuesday, 3rd May, 2024

Đôi lúc chúng ta có thể bắt gặp người Anh, Mỹ viết ngày tháng như sau:

Wednesday, December 3, 2024

Wednesday, 3 December, 2024

Hướng dẫn cách học tiếng Anh thực dụng, dễ dàng cho người không có năng khiếu và mất gốc. Hơn 205.350 học viên đã áp dụng thành công với lộ trình học thông minh này.

3. Ý nghĩa các tháng tiếng Anh trong năm

Gần như toàn bộ các tháng trong tiếng Anh đều có nguồn gốc từ các chữ cái Latin và được đặt tên dựa theo các vị thần La Mã cổ đại. Vì thế, mỗi tháng đều mang một ý nghĩa riêng. Hiểu được ý nghĩa của các thánh này cũng là một trong những cách để bạn t ăng cường khả năng giao tiếp tiếng Anh , thể hiện sự am hiểu về lĩnh vực này của bạn đó.

Ý nghĩa các tháng tiếng Anh

Tháng 1 tiếng Anh: January Tháng 2 tiếng Anh: February

February có nguồn gốc từ từ Februa, đây là tên một lễ hội của người La Mã được tổ chức vào đầu năm nhằm thanh tẩy, gột rửa những thứ ô uế trước khi bắt đầu mùa xuân. Ngoài ra cụm từ này còn có ý nghĩa mong muốn con người sống hướng thiện, làm những điều tốt.

Từ March xuất xứ từ chữ La tinh là Mars. Trong thần thoại La Mã cổ đại thì thần Mars là vị thần của chiến tranh. Cho tới trước thời Julius Caesar thì một năm chỉ có 10 tháng và khởi đầu từ tháng 3. Nó được đặt tên theo vị thần này với ngụ ý mỗi năm sẽ là khởi đầu của một cuộc chiến mới.

Tháng tư tiếng Anh: April

Từ April xuất phát từ từ gốc Latinh là Aprilis . Theo quan niệm của người La Mã cổ đại, trong một năm chu kỳ thời tiết thì đây là thời điểm mà cỏ cây hoa lá đâm chồi nảy lộc. Theo tiếng La tinh từ này có nghĩa là nảy mầm nên người ta đã lấy từ đó đặt tên cho tháng 4 . Còn trong tiếng Anh cổ, April đôi khi được gọi là Eastermonab (tháng Phục sinh, thời điểm thường dùng để tưởng niệm cái chết và sự phục sinh của Chúa Jesus theo quan niệm của người Kitô giáo).

Tên gọi của tháng này được đặt theo tên nữ thần Maia của Hy Lạp. Bà là con của Atlas và mẹ của thần bảo hộ Hermes. Maia thường được nhắc tới như nữ thần của Trái đất và đây được xem là lý do chính của việc tên bà được đặt cho tháng 5, một trong những tháng mùa xuân. Còn theo một số thần thoại khác tên gọi tháng 5 còn có ý nghĩa là phồn vinh.

June được lấy theo tên gốc là Juno- là thần đứng đầu của các nữ thần La Mã, vừa là vợ vừa là chị cái của Jupiter. Juno cũng đồng thời là vị thần đại điện của hôn nhân và sinh nở.

July được đặt tên theo Julius Caesar, một vị hoàng đế La Mã cổ đại, ông là người đã lấy tên mình để đặt cho tháng. Sau khi ông qua đời vào năm 44 trước Công nguyên, tháng ông sinh ra được mang tên July. Trước khi đổi tên, tháng này được gọi là (trong tiếng Anh là , có nghĩa “ngũ phân vị”).

Tháng 8 tiếng Anh: August

Cũng tương tự tháng 7, từ August được đặt theo tên của Hoàng đế Augustus Caesar. Danh xưng này có nghĩa “đáng tôn kính”.

Tháng 9 tiếng Anh: September

(có nghĩa “thứ bảy”) trong tiếng Latin là tháng tiếp theo của và . Kể từ tháng 9 trở đi trong lịch đương đại, các tháng sẽ theo thứ tự như sau: tháng 9 (hiện nay) là tháng thứ 7 trong lịch 10 tháng của La Mã cổ đại (lịch này bắt đầu từ tháng 3).

Tháng 10 tiếng Anh: October

Từ Latin có nghĩa là “thứ 8”, tức tháng thứ 8 trong 10 tháng của một năm. Vào khoảng năm 713 trước Công nguyên, người ta đã thêm 2 tháng vào lịch trong năm và bắt đầu từ năm 153 trước Công nguyên, tháng một được chọn là tháng khởi đầu năm mới.

Tháng 11 tiếng Anh: November Tháng 12 tiếng Anh: December

Tháng cuối cùng trong năm hiện tại là tháng (thứ 10) của người La Mã xưa.

4. Bài tập về các tháng trong tiếng Anh

Bài tập 1: Điền giới từ vào chỗ trống

…………… summer, I love swimming in the pool next to my department

He has got an appointment with a student …………… Monday morning.

We’re going away …………… holiday …………… September 2024.

The weather is very hot here …………… May.

I visit my grandparents …………… Sundays.

I are going to travel to Phu Quoc …………… April 15th.

Would you like to play game with me …………… this weekend?

My son was born …………… October 20th, 1999.

Bài tập 2: Cách đọc cụm từ về ngày – tháng – năm được in đậm

She’s flying back home on Tuesday, February 15th.

My mother’s birthday is on November 2nd.

They’re having a party on 22nd July.

Their Wedding is on August 23th in the biggest restaurant in Ha Noi.

New Year’s Day is on 1st January.

Bài tập 1: Điền giới từ vào chỗ trống

In summer, I love swimming in the pool next to my department

He has got an appointment with a student on Monday morning.

I visit my grandparents on Sundays.

I are going to travel to Phu Quoc on April 15th.

Would you like to play game with me at/on this weekend?

Bài tập 2: Phát âm từ in đậm

Their Wedding is on August 23th in the biggest restaurant in Ha Noi. (Phát âm ‘on August the twenty third’.)

Comments

Ý Nghĩa Tên Các Tháng,Các Ngày Trong Tuần Của Tiếng Séc

Ý nghĩa tên các tháng,các ngày trong tuần của tiếng Séc.

Xin được trả lời như sau:

1) Ý NGHĨA TÊN CÁC THÁNG TRONG TIẾNG SÉ

Tháng 1: LEDEN – đây là tháng lạnh nhất, thường có băng đá (LED) Tháng 2: ÚNOR – băng đá (led) vỡ và tan dần (NOŘIT SE) Tháng 3: BŘEZEN – tháng động vật sinh sôi nẩy nở (BŘEZÍ tt, mang thai (nói về súc vật)) Tháng 4: DUBEN – những rừng sồi (DUBY) đâm chồi nảy lộc Tháng 5: KVĚTEN – hoa (KVĚTY) đua nở khắp nơi Tháng 6: ČERVEN – trái cây bắt đầu hửng đỏ Tháng 7: ČERVENEC – trái cây chín đỏ khắp nơi Tháng 8: SRPEN – tháng của gặt hái (SRP – cái liềm) Tháng 9: ZÁŘÍ – (ŘÍJE c., (động vật cái) động dục, động cấn, động đực, động hớn (hiện tượng động vật cái ở thời kì kích động sinh dục do trứng rụng) Tháng 10: ŘÍJEN – một cách biến hình khác của ŘÍJE – như tháng 9) Tháng 11: LISTOPAD – tháng lá rụng (LISTÍ PADÁ ZE STROMŮ) Tháng 12: PROSINEC – bầu trời xám, ảm đạm (SINÝ tt., văn viết: = světle modrý (do šeda nebo do fialova))

2) Ý NGHĨA TÊN TIẾNG SÉC CÁC NGÀY TRONG TUẦN LỄ

Ngày đầu tiên của tuần lễ là ngày CHỦ NHẬT: (người Công giáo Việt Nam gọi là ngày Chúa nhật, có nghĩa là Ngày của Chúa) là ngày thứ nhất trong tuần lễ.

-NEDĚLE – nghỉ ngơi, không làm việc (NEDĚLÁ SE) -PONDĚLÍ – DEN PO NEDĚLI -ÚTERÝ – ngày thứ hai sau NEDĚLE (tiếng Việt gọi là thứ ba) -STŘEDA – ngày giữa tuần (PROSTŘEDNÍ DEN TÝDNE) -ČTVRTEK – ngày thứ tư kể từ chủ nhật ( ČTVRTÝ DEN PO NEDĚLI), tiếng Việt gọi là thứ năm -PÁTEK – ngày thứ năm kể từ ngày chủ nhật (PÁTÝ DEN PO NEDĚLI), tiếng Việt gọi là thứ sáu -SOBOTA – tiếng Việt gọi là thứ bảy, SOBOTA bắt nguồn từ SABÁT của ngôn ngữ Hê Bơ, có nghĩa là nghỉ ngơi. Ngày Sa Bát kỉ niệm ngày nghỉ ngơi của Thượng Đế sau khi Ngài đã hoàn tất Sự Sáng Tạo. Trong Kinh Thánh có câu „OSTŘÍHEJ DNE SOBOTNÍHO, ABYS JEJ SVĚTIL”, nghĩa là „hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày Thánh”

Sưu tầm: Nguyễn Thế Minh

Các Tháng Trong Năm, Các Ngày Trong Tuần: Nguồn Gốc Tên Gọi & Những Ý Nghĩa

Từ thời cổ đại, con người quan sát sự chuyển dời của thời gian bằng cách ghi nhận sự xoay vòng của mặt trăng, hay còn gọi là tuần trăng, với một tuần trăng tương đương với 29.530588 ngày (tức là 29 ngày 12 giờ 44 phút và 3 giây). Do vậy nếu dò theo ngữ nguyên thì chữ moon và month đều xuất phát từ cùng một gốc ngữ hệ Ấn-Âu menes (từ này chỉ cả hai nghĩa moon và month). Trong một năm có mười hai tháng, với tên tiếng Anh lần lượt là January, February, March, April, May, June, July, August, September, October, November, và December. Nếu để ý thấy thì chữ September có tiếp đầu ngữ sept- mang nghĩa là thứ bảy, tức đây là tháng thứ bảy, trong khi September hiện nay được mang nghĩa là tháng chín. Nguyên do là từ thời La-mã cổ đại, ban đầu người ta làm lịch chỉ có mười tháng, từ March đến December, không có January và February. Tên gọi mười tháng đó vào thời La-mã cổ đại là: Martius, Aprilis, Maius, Juniius, Quintilis, Sextilis, September, October, November, và December; với sáu tháng cuối là các từ Latin để chỉ các con số từ 5 đến 10. Sau đó Numa Pompilius đã thêm vào hai tháng January vào đầu năm và February vào cuối năm, tới năm 452 trước Công nguyên thì February được di chuyển nằm giữa January và March.

January: Bắt nguồn từ tiếng Latin Ianuaris, từ này bắt nguồn từ chữ ianua (nghĩa là “door”), và có liên hệ với vị thần hai đầu Janus, một vị thần bảo hộ chuyên đứng giữ cửa. Theo nhiều học giả thì Janus là vị thần của sự khởi thuỷ, là vị thần đầu tiên trong số các vị thần xuất hiện ở các nghi thức tế lễ. Do vậy mà mọi sự bắt đầu của ngày, tháng, và năm đều được liên hệ với ông ta. Tháng đầu tiên trong năm, January, theo đó mà được đặt theo tên ông ta, với ngụ ý rằng đó là thời điểm mà ông ta với hai cái đầu có thể nhìn về năm cũ cũng như hướng đến năm mới.

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp janvier, Tây-ban-nha enero, Bồ-đào-nha Janeiro, Ý gennaio, Đức Januar (ở Đức và Thuỵ-sĩ) hoặc Janner (ở Áo), Wales Ionawr, tiếng Scots Gaelic an Faoilteach, Ireland Eanáir.

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp mars, Tây-ban-nha marzo, Bồ-đào-nha Março, Ý marzo, Đức März, Wales Mawrth, tiếng Scots Gaelic am Màrt, Ireland Márta.

April: Chữ Latin là Aprilis, và người ta cho rằng nó xuất phát từ chữ Apru, là tiếng Etruscan (một chủng người cổ đại sống tại vùng đất là nước Ý ngày nay), đuợc mượn từ Aphro, dạng viết tắt của Aphrodite, nữ thần Hi-lạp. Do vậy, theo dân La-mã, thì Aprilisđuợc xem như là “tháng của nữ thần Venus” Ngoài ra nó còn có một ngữ nguyên khác liên hệ với chữ aperir (nghĩa là “to open”) theo như việc các nụ và bông hoa nở ra vào thời điểm này trong năm tại thành Rome.

May: Từ chữ Latin Maius, đặt theo tên Maia, nữ thần sinh trưởng của La-mã, vợ của thần lửa Vulcan (tên Maia này có thể cùng một nguồn với chữ Latin magnus, nghĩa là “large”).

June: tên Latin Iunius của tháng này được bắt nguồn từ tên vị nữ thần Juno của La-mã. Tên của tháng này theo tiếng Scots Gaelic có nghĩa là “tháng non trẻ” (the young month), nhưng một cái tên khác được ghi nhận là Meadhan-Samhraidh “midsummer” (giữa hè); tên tháng này trong tiếng xứ Wales cũng mang nghĩa tương tự, và tên tháng trong tiếng Ireland thì có nghĩa là “ở giữa” (middle)

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp juillet, Tây-ban-nha julio, Bồ-đào-nha Julho, Ý luglio, Đức Juni, Wales Gorffennaf, Scots Gaelic an t-Iucbar, Ireland Iúil.

October: Tên Latin của tháng này October chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ tám trong năm (xuất phát từ chữ octo, “số tám”). Tên tháng trong tiếng Wales, ban đầu là hyddfref, nghĩa là tiếng bò rống; trong tiếng Scots Gaelic thì nghĩa là “thời kì động đực” (rutting time), bắt nguồn từ chữ damh, nghĩa là “con bò”; trong tiếng Ireland thì có nghĩa là “cuối thu” (end of autumn).

November: Tên Latin của tháng này November chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ chín trong năm (xuất phát từ chữ novem, “số chín”). Trong tiếng Wales thì tên tháng này mang nghĩa là “sát sinh” (slaughter); tương tự vậy, người Hà-lan dùng nghĩa đó để gọi tháng này slachtmaand, bởi vì người ta giết thú vật trong tháng này, và trong Old English còn bảo lưu một từ biến thể của người ngoại đạo blomonap, nghĩa là “tháng hiến tế” (sacrifice month). Một từ khác trong tiếng Wales là y mis du, “tháng tối tăm” (black month), từ này được ghi nhận trong tiếng Scots Gaelic (am mìos dubh).

Ngày đầu tiên của tháng này là một sự kết thúc cho vụ mùa, là cái ngày mà các bầy thú trở về từ các đồng cỏ và sự chiếm hữu đất đai được gia hạn. Nó cũng là thời điểm mà người ta tin rằng linh hồn của những người đã khuất sẽ trở về thăm viếng gia đình. Người ta đốt lửa mừng trên đỉnh đồi để thắp lên lại ngọn lửa ấm áp gia đình cho mùa đông và để xua đuổi những linh hồn xấu xa, và thỉnh thoảng họ mang mặt nạ và hoá trang để những hồn ma không thể nhận ra họ. Đó chính là lễ hội Samhain của người Celts, và cũng là nguồn gốc của lễ Halloween hiện nay, vốn được tổ chức vào đêm 31/10. [1]

Năm là đơn vị chỉ thời gian, và hơn nữa nó còn mang tính biểu tượng. Năm là một kiểu hình cho mọi quá trình có chu kì (như một đời người, sự trỗi dậy và suy tàn của nền văn hoá, chu kì vũ trụ). Biểu tượng hình tròn của năm thường được nằm gói gọn trong một hình vuông với bốn góc là bốn nhân vật tượng trưng cho bốn mùa trong năm. Tấm thảm thêu về Sự sáng tạo trong nhà thờ Gerona là một ví dụ hoàn hảo cho hình ảnh đó. Trong truyền thống Trung-hoa thì vòng tròn biểu tượng của năm được chia thành hai phần bằng nhau, tương ứng với bóng tối/cái chết và ánh sáng/sự sống. Từ thời xa xưa thì người ta tin rằng mỗi người đều phải trải qua một quá trình tái sinh hàng năm, từ tháng Mười hai cho đến tháng Sáu, biểu tượng cho cái chết và sự phục sinh. [2]

Bảng 1 – Tên các ngày trong tuần (hình lấy từ cuốn The History of Time: A Very Short Introduction)

Một tuần bảy ngày là đơn vị thời gian được người ta tạo ra không căn cứ trên khía cạnh thiên văn. Nguồn gốc của đơn vị tuần lễ này được liên hệ với người Do-thái cổ đại và ghi chép kinh thánh về Sự sáng tạo, theo đó thì Chúa làm việc trong sáu ngày và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Tuần lễ của người Do-thái xoay quanh ngày Sabbath, là ngày thần thánh và là ngày nghỉ của người Do-thái, bắt đầu từ buổi hoàng hôn Thứ sáu cho đến buổi đêm về vào ngày kế tiếp (tức là ngày Thứ bảy). Tuy nhiên giới nghiên cứu đã chứng minh được rằng người Do-thái có lẽ đã mượn ý tưởng về tuần lễ này từ những người ở vùng Lưỡng-hà, vì người Sumer và người Babylon chia một năm thành những tuần bảy ngày. Và từ người Babylon đến người Ai-cập, rồi người La-mã đặt tên mỗi ngày trong tuần theo tên của những hành tinh theo một chuỗi bảy hành tinh quan sát được bằng mắt thường: Mặt trăng (Moon), sao Thuỷ (Mercury), sao Kim (Venus), Mặt trời (Sun), sao Hoả (Mars), sao Mộc (Jupiter), và sao Thổ (Saturn).

Trong các ngôn ngữ trên, thì tên các ngày trong tuần theo tiếng của xứ Wales khá giống tiếng Latin hơn cả, vì tiếng Wales là ngôn ngữ còn sót lại của thời Roman Britain (nước Anh của La-mã), do vậy còn giữ được tên của các hành tinh sát với gốc Latin còn hơn cả những ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Romance (ngữ hệ bắt nguồn từ Latin) như Pháp, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, v.v.

Theo tiếng Latin thì ngày đầu tiên được đặt theo tên ngày Mặt trời (Sun) (dies Solis), ngày thứ nhì là cho ngày Mặt trăng (Moon) (dis Lunae), ngày thứ ba là ngày sao Hoả (Mars) (dies Martis), ngày thứ tư là ngày sao Thuỷ (Mercury) (Mercurii), ngày thứ năm là ngày sao Mộc (Jupiter) (dies Iovis), ngày thứ sáu là ngày sao Kim (Venus) (dies Veneris), và ngày thứ bảy là ngày sao Thổ (Saturn) (dies Saturni). Tên các hành tinh ở thời La-mã là bản phiên dịch từ tiếng Hi-lạp, và Hi-lạp là từ tiếng Babylon, Babylon thì từ Sumer:

Bảng 2 – Tên các hành tinh [4](Nguồn: http://www.friesian.com/week.htm)

Có một điều thú vị trong tên các ngày bằng tiếng Latin là bảy hành tinh được xếp theo chuỗi tăng dần bắt đầu từ ngày Monday và tăng tiến lên theo từng khoảng hai ngày trong vòng hai tuần: Monday (Moon), Wednesday (Mercury), Friday (Venus), Sunday (Sun), Tuesday (Mars), Thursday (Jupiter), Saturday (Saturn). Để hiểu nguyên do vì sao thì ta quay ngược thời gian trở về Ai-cập thời Plotemy, lúc này các nhà chiêm tinh định ra rằng mỗi giờ sẽ ứng với một hành tinh theo thứ tự giảm dần về mặt khoảng cách đối với Trái đất, lần lượt là Saturn, Jupiter, Mars, Sun, Venus, Mercury, Moon, và mỗi ngày thì ứng với hành tinh đại diện cho giờ đầu tiên của ngày đó; bởi vì một ngày bao gồm 3×7+3 giờ, bắt đầu là Saturn, nên ngày đầu tuần vào thời đó được tính là ngày Saturday, do đó sang ngày hôm sau thì giờ đầu tiên rơi vào Sun, thành Sunday, ngày hôm sau nữa rơi vào Moon, thành Monday, v.v..

Mặc dù sau này, Kitô giáo lấy khái niệm tuần lễ của người Do-thái và đổi ngày Sunday lại thành “ngày của Chúa” (Lord’s day – dies Dominicus), nhưng vị hoàng đế đầu tiên của đế chế La-mã Công giáo, Constantine, vào năm 321 đã ban sắc lệnh rằng vào ngày Sunday thì không kiện tụng gì cả, ông ta không gọi ngày đó là “ngày của Chúa” mà gọi là “ngày mà mặt trời được tôn thờ” ( diem solis ueneratione sui celebrem).

Trong số các ngôn ngữ của Tây Âu, thì ngoại trừ tiếng Bồ-đào-nha tiếp thu hoàn toàn cách đặt tên của Kitô giáo. Còn lại các ngôn ngữ khác thuộc ngữ hệ Romance chỉ giữ lại cách đặt tên của “ngày của Chúa” (Pháp, dimanche / Tây-ban-nha, domingo / Ý, domenica) và ngày “Sabbath” (samedi / sábado / sabato), những ngày còn lại trong tuần vẫn giữ cách đặt tên theo các hành tinh.

Trong các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Germanic (tiếng Đức cổ), thì có một số thay đổi so với tiếng Latin. Như tiếng Anh, các ngày Sunday, Monday, Saturday vẫn được đặt theo tên các hành tinh, còn những ngày khác thì đặt theo tên các vị thần của dân tộc Germanic cổ:

Tuesday được đặt tên theo thần Týr (Old English viết là Tiw hay Tiu), vị thần chiến tranh và bầu trời (tương ứng với thần Mars bên La-mã), ngày này trong tiếng Thuỵ-điển hay Đan-mạch lần lượt là tisdag và tirsdag, còn tiếng Đức là Dienstag.

Wednesday đặt theo tên của thần Woden (còn có một tên thông dụng khác là Odin), tương ứng với thần Mercury bên La-mã, và cách đặt tên này qua bên tiếng Hà-lan là woensdag, tiếng Thuỵ-điển và Đan-mạch onsdag. Tuy nhiên trong tiếng Đức thì có sự thay đổi nữa, là ngày này người Đức gọi là Mittwoch (tức là midweek, giữa tuần)

Thursday đặt tên theo thần Thor, thần sấm sét, cũng từ tên vị thần này mà có từ tiếng Anh thunder.

Friday đặt theo tên thần Frigg, trong thần thoại Scandinavia thì Frigg là vợ của Odin và là nữ thần của hôn nhân và sự sinh sản, tương ứng với thần Venus bên La-mã.

Người Slav (những dân tộc thuộc khu vực trung và đông của châu Âu) thì áp dụng một hệ thống đặt tên khác. Ngày Sunday được họ gọi là nedelja, ngày “không-làm-việc” (not-work). Tuy nhiên từ đó lại có nghĩa là “week” trong tiếng Nga, và người Nga thì gọi ngày Sunday là voskresene, “sự phục sinh” (một dạng từ khác của từ Voskresenie, nghĩa là “ngày Phục sinh” (Easter)), ngày Monday được gọi là ponedel’nik, nghĩa là “ngày sau nedelja “. Ngày Saturday trở thành “Sabbath”, ngày Wednesday mang nghĩa là “giữa tuần”, còn những ngày Tuesday, Thursday, và Friday thì mang tên bắt nguồn lần lượt từ nghĩa “hai”, “bốn”, và “năm”, vì họ đếm bắt đầu từ ngày Monday chứ không phải từ ngày Sunday. Người Lithuania và Latvia cũng bắt đầu đếm các ngày trong tuần từ ngày Monday.

Còn trong tiếng Việt, thì các ngày trong tuần từ Monday đến Saturday được gọi lần lượt là Thứ hai, Thứ ba, cho đến Thứ bảy, còn ngày Sunday có hai cách gọi “chúa nhật” hoặc “chủ nhật”, tức “Lord’s day”. Nếu ta so với bảng 1, thì thấy cách gọi này về mặt ý nghĩa giống hệt như cách gọi trong tiếng Latin của nhà thờ Kitô giáo (Church Latin), và trong ngôn ngữ hiện đại ngày nay thì giống với cách gọi của tiếng Bồ-đào-nha: từ feria ở đây theo tiếng Latin ban đầu có nghĩa là “free days” (những ngày rảnh rỗi), nhưng sau đó chuyển thành nghĩa “feast days” (những ngày lễ hội), và rồi vì một lí do nào đó mà từ feria này được dùng để chỉ các ngày trong tuần. Nhắc lại lịch sử thì vào đầu thế kỉ 17, các nhà truyền giáo Bồ-đào-nha sang Việt-nam, và những người này đã có vai trò cực kì quan trọng trong việc hình thành chữ Quốc ngữ hiện nay, do đó việc tên gọi các ngày trong tuần có ý nghĩa trùng khớp với bên tiếng Bồ-đào-nha là điều hoàn toàn hợp lí và có cơ sở về mặt lịch sử.

Chú thích:

(Nguồn: http://www.friesian.com/week.htm)

[1] “Halloween.” Encyclopædia Britannica. Encyclopaedia Britannica Ultimate Reference Suite. Chicago: Encyclopædia Britannica, 2010. [2] Cirlot, J. E. “Year.” A Dictionary of Symbols. 2 nd ed. London: Routledge, 1971. [3] Cirlot, J. E. “Week.” A Dictionary of Symbols. 2 nd ed. London: Routledge, 1971. [4] Coi thêm tên các hành tinh theo nhiều ngôn ngữ khác nhau: Planetary Linguistics, http://nineplanets.org/days.html

Encyclopædia Britannica. Encyclopaedia Britannica Ultimate Reference Suite. Chicago: Encyclopædia Britannica, 2010.

Ayto, John. Word Origins. 2nd edition. London: A & C Black, 2005.

Blackburn, Bonnie & Leofranc Holford-Strevens. The Oxford Companion to the Year. New York: Oxford University Press, 1999.

Cirlot, J. E. A Dictionary of Symbols. 2nd ed. London: Routledge, 1971.

Holford-Strevens, Leofranc. The History of Time: A Very Short Introduction. New York: Oxford University Press, 2005.

Ross, Kelly L. “The Days of the Week.” The Proceedings of Friesian School, the Fourth Series. 2005. <http://www.friesian.com/week.htmp

Nguồn: https://chiecnon.wordpress.com/2011/01/05/cac-thang-trong-nam-cac-ngay-trong-tuan/

Ý Nghĩa Tên Các Tháng Trong Tiếng Anh

February (tháng 2) March (tháng 3) April (tháng 4)

Từ tiếng Anh April có gốc từ chữ Aprillis trong tiếng Latin, là tháng tư trong lịch của La Mã cổ đại. Còn trong tiếng Anh cổ, April đôi khi được gọi là Eastermonab (tháng Phục sinh, thời điểm thường dùng để tưởng niệm cái chết và sự phục sinh của Chúa Jesus theo quan niệm của người Kitô giáo).

May (tháng 5)

Tên gọi của tháng được đặt theo tên nữ thần Maia của Hy Lạp. Bà là con của Atlas và mẹ của thần bảo hộ Hermes. Maia thường được nhắc tới như nữ thần của Trái đất. Và đây được xem là lý do chính của việc tên bà được đặt cho tháng 5, một trong những tháng mùa xuân.

June (tháng 6) July (tháng 7) August (tháng 8)

Năm 8 trước Công nguyên, tháng Sextilis (thứ sáu) được đổi tên thành August, theo tên của Augustus, Hoàng đế đầu tiên cai trị đế chế La Mã (qua đời năm 14 trước Công nguyên). Augustus thực chất là một danh xưng sau khi trở thành Hoàng đế của Gaius Octavius (hay Gaius Julius Caesar Octavianus), người kế thừa duy nhất của Caesar. Danh xưng này có nghĩa “đáng tôn kính”.

September (tháng 9) October (tháng 10) November (tháng 11) Novem là “thứ 9” (tiếng Latin). December (tháng 12)

Tháng cuối cùng trong năm hiện tại là tháng decem (thứ 10) của người La Mã xưa.

Theo Oxford Dictionaries Blog

? Các Tháng Trong Tiếng Anh Và Ý Nghĩa

Không phải tự nhiên các tháng trong tiếng Anh lại mang trên mình những tên gọi khác nhau. Lý do đơn giản bởi, các tháng có nguồn gốc và ý nghĩa đặc biệt.

Sự Ra Đời Tên Gọi Các Tháng Trong Tiếng Anh

Trước đây, người La Mã thường gắn tên của các vị thần linh trong huyền thoại vào bất cứ thứ gì đó tồn tại trong đời sống thường ngày. Mỗi vị thần đều gắn với các tháng để tạo nên sự khác biệt. Bạn có thể cùng KIS English tham khảo nguồn gốc của các tháng như sau:

Tháng 1- January

Thần Janus được gọi là thần gác cửa. Thần Janus có hai mặt để tiện lợi cho việc canh gác hai mặt của cùng một lối nên gắn với tháng thứ nhất trong năm. Tháng giêng hay tháng 1 trong năm gắn liền với ý nghĩa januarius mensis. Trước thế kỷ 14, cụm từ được người Anh sử dụng với dạng Gevenen. Từ 1391, tháng giêng được gọi January.

Tháng 2 – Februar

Februar là một lễ hội nổi tiếng được tổ chức vào tháng hai hàng năm phải kể đến. Lễ hội này vào đầu thế kỷ 13 còn được người Anh gọi với cái tên thân mật là Federer và chuyển thành Feoverel chỉ sau một thời gian ngắn sau đó. Vào năm 1373, để có lối chính tả đơn giản, dễ viết, người Anh đã gọi tháng 2 là Februar. Tên gọi dành cho tháng 2 này vẫn được người dân Anh và trên cả nước gọi cho đến ngày nay.

Tháng 3 – March

Tháng được nhiều người ưa chuộng với tiết trời đẹp, xanh phải kể đến March. Bởi, vị thần gắn liền với chiến tranh có tên là Mars. Tên gọi này xuất phát từ marz tên tiếng Pháp. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 13 tiếng Anh gọi tháng 3 bằng cái tên thân mật March.

Tháng 4 – April

Tiếng La Tinh cho rằng, April là tháng hoa nở đầu xuân. Trước đây, tháng 4 được gọi Aprilis trong tiếng La Tinh và tiếng Pháp gọi Avril. Bước vào thế kỷ 13, tháng 4 được gọi với cái tên mới là Averil. Tuy nhiên, tên gọi này chỉ tồn tại đến năm 1375 đã được thay đổi. Từ thời gian đó đến nay, tháng 4 trong tiếng anh có tên gọi April.

Tháng 5 – May

Tháng 5 là tháng mang tên của nữ thần người La Mã – Maia. Tên magnus có nguồn gốc từ La Tinh mang trong mình ý nghĩa của sự tăng trưởng. Tuy nhiên, tên gọi này đã kết thúc vào đầu thế kỳ thứ 12. Bởi, dựa trên tiếng Pháp từ Mai, người Anh đã gọi tháng 5 là May.

Tháng 6 – June

Tên June được sử dụng để gọi tên tháng 6 từ thế kỷ 11 đến nay. Tên gọi này được vay mượn từ La Tinh bắt nguồn từ Junonius. Vị thần Juno đại diện cho những nữ giới mạnh mẽ, quyền lực cùng sự hạnh phúc trong hôn nhân, do đó được nhiều người chú ý. Chính điều này đã cho ra đời tên gọi June để nói riêng về tháng 6, tránh lẫn với các tháng trong tiếng Anh khác.

Tháng 7 –July

Vị hoàng đế người La Mã có tên Carsare được sinh ra vào tháng 7. Người này có trí lực siêu phàm, có công cải lịch La Mã. Dựa trên tên Julius Caesar, người dân Anh đặt tên tháng 7 là July để tưởng nhớ vị hoàng đế này.

Tháng 8 – August

Tên của người tự xưng là vị thần Julius Caesar được nhiều người sử dụng nhưng cũng có sự cải biến đáng kể. Nổi bật nhất trong đó, Augustus Caesar cháu của vị hoàng đế tài đức này đã lấy tên mình để gọi tên một trong các tháng trong tiếng Anh. Vì vậy, tên August được sử dụng bắt nguồn từ thời gian đó cho tới tận hôm nay.

Các Tháng Còn Lại

Các tháng 9 đến 12 mang trên mình tên gọi dựa trên quy luật đặc biệt. Cụ thể như sau:

–         Tháng 9 là September, gốc La Tinh gọi là bảy.

–         Tháng 10  gọi October  nhưng gốc La Tinh chỉ nghĩa tháng 8.

–         Tháng 11 gọi November nhưng gốc La Tinh chỉ nghĩa là 9.

–         Tháng 12 gọi là December nhưng gốc La Tinh chỉ nghĩa tháng 10.

Bạn chắc chắn dễ dàng tìm thấy quy luật đặt tên các tháng này khi tham gia các khóa học tiếng Anh online tại KISS English. Dựa vào các khóa học này bạn có thể nhớ lâu hơn nguồn gốc ra đời và ý nghĩa của các tháng trong tiếng Anh. Video review lớp học tiếng Anh bạn có thể tham khảo như sau:

Ý Nghĩa Của Các Tháng Trong Tiếng Anh

Các tháng trong tiếng Anh mang một ý nghĩa nhất định. Nếu bạn chưa biết ý nghĩa của các tháng như thế nào có thể tham khảo khi học từ vựng tiếng Anh online như sau:

Ý Nghĩa January (Tháng 1)

January mang ý nghĩa đặc biệt. Đây là tháng đầu tiên của năm mới được gắn với tên vị thần thời gian. Vị thần này có thể nhìn được quá khứ và tương lai, hiện tại.

Ý Nghĩa February (Tháng 2)

February mang ý nghĩa thanh trừ. Các phạm nhân đều bị xử hành quyết vào tháng này nên người ta gọi thanh trừ. Đồng thời, February còn có ý nghĩa nhắc nhở mọi người hãy sống lương thiện, tránh gây ra lỗi lầm. Tháng này có số ngày thấp hơn các tháng khác 1-3 ngày.

Ý Nghĩa March (Tháng 3)

March là vị thần của chiến tranh, là cha của Ro Myl và Rem. Chính hai người con này đã xây dựng nên thành phố Rim nổi tiếng trong truyền thuyết xưa. Thời gian gần đây, thành phố được gọi với tên mới Roma.

Ý Nghĩa April (Tháng 4)

Ý nghĩa ấn tượng nhất của các tháng trong tiếng Anh phải kể đến April. Bởi, April mang ý nghĩa về quãng thời gian tươi đẹp của thiên nhiên khi cây cối đâm chồi nảy lộc.

Ý Nghĩa May (Tháng 5)

May lấy tên của vị thần đất. Đồng thời, tháng này còn mang ý nghĩa của sự phát triển, của sự phồn vinh, thịnh vượng.

Ý Nghĩa June (Tháng 6)

Tháng 6 – June mang tên của nữ thần Ju-no-ra-la-vơ. Thần thoại Hy Lạp đã nhiều lần khẳng định vị thần June còn có tên gọi khác là Hera.

Ý Nghĩa July (Tháng 7)

July là tên gọi lấy theo vị hoàng đế La Mã Ju-li-us-le-sar. Vị hoàng đế này có nhiều công lao to lớn trong việc cải cách ra lịch dương. Tháng này được đánh giá đặc biệt nhất thuộc các tháng trong tiếng Anh.

Ý Nghĩa August (Tháng 8)

August được lấy theo tên vị hoàng đế Au-gus của La Mã. Vị hoàng đế này có công lớn trong việc sửa chữa lịch chủ tế. Tháng này được cộng thêm 1 ngày vào lịch tổng có 31 ngày.

Ý Nghĩa September (Tháng 9)

September có ý nghĩa là số 7. Số 7 này tương đương với tháng thứ 7 trong một năm. Tuy nhiên, ý nghĩa này lại được dùng để chỉ tháng 9 tính theo dương lịch.

Ý Nghĩa October (Tháng 10)

October có ý chỉ những tháng chẵn cuối năm nhưng theo lịch cũ chỉ tháng 8. October mang ý nghĩa của sự no đủ, an nhàn, hạnh phúc và may mắn.

Ý Nghĩa November (Tháng 11)

November lịch cũ chỉ tháng 9 trong năm. Tháng này mang ý nghĩa của sự no đủ, ấm áp. Tháng 9 vì vậy được nhiều người yêu thích.

Ý Nghĩa December (Tháng 12)

December dùng để chỉ tháng 10 trong năm nhưng trong từ vựng tiếng Anh chỉ tháng 12 của năm. Tháng này biểu thị cho sự kết thúc của một năm qua, tạo tiền để bước sang năm mới.

Khái quát nhất về các tháng trong tiếng Anh cùng ý nghĩa, nguồn gốc ra đời của các tháng đã được KISS English chia sẻ kể trên. Dựa vào đó bạn có thể nắm bắt thêm những kiến thức cần biết cho mình.

Nếu bạn có nhu cầu cải thiện trình độ tiếng Anh hãy chọn tham gia luyện nghe tiếng Anh, luyện nói tiếng Anh tại KISS English theo địa chỉ:

Top 5 bài viết học tiếng Anh online hay nhất

Đây là các bài viết được nhiều người đọc nhất trong tháng:

Cập nhật thông tin chi tiết về Ý Nghĩa Của Tên Các Tháng Trong Năm trên website Eduviet.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!